I.9 câu thơ đầu :Cội nguồn của đất nước
"Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể
…
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất nước có từ ngày đó"
1.Đoạn thơ được mở đầu bằng lời tâm
sự về cội nguồn sinh thành của đất nước
"Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể “
Nhà thơ không nêu lên một điểm mốc thời gian cụ thể nào để nói về nguồn gốc của
đất nước nhưng qua đó tác gải lại thể hiện được cảm xúc ngỡ ngàng đầu tiên của
mỗi người khi tiếp nhận hai tiếng thiêng liêng ấy. Bằng cách nói tưởng chừng
như trừu tượng, Nguyễn Khoa Điềm đã giúp ta cảm nhận được dòng thời gian đằng đẵng
để thấy đất nước được hình thành từ quá khứ xa xôi. Đất nước còn hiện diện
trong những câu chuyện ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể
2.Đất nước còn nhập vào cuộc sống
hiện tại và gắn liền với những gì gần gũi, thân thương nhất "Đất nước bất
đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn"
Tác giả đã sử dụng những chi tiết, hình ảnh giàu sức gợi để tái hiện quá trình
hình thành của đất nước. Miếng trầu bà ăn thật bình dị, thân quen nhưng cũng
là biểu tượng cho triết lý nhân sinh sâu sắc của người VIệt, miếng trầu là biểu
tượng cho tình nghĩa thủy chung của vợ chồng, của anh em. Hình ảnh miếng trầu gợi
ta nhớ đến sự tích trầu cau chứa đựng những ý nghĩa sâu xa
"Tách riêng thì đắng thì cay
Hòa chung thì ngọt thì say lòng
người
Tách riêng xanh lá bạc vôi
Hòa chung thắm đỏ máu người lạ
chưa
Chuyện tình ngày xửa ngày
xưa…"
Đồng thời miếng trầu còn là biểu
hiện cho vẻ đẹp của thuần phong mĩ tục, cho bản sắc riêng của một dân tộc trọng
tình nghĩa hơn của cải vật chất "Miếng trầu là đầu câu chuyện"
3.Bên cạnh đó hình ảnh cây tre cũng
gợi những truyền thuyết xa xưa:" Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng
tre mà đánh giặc". đọc câu thơ ta lại nhớ đến cậu bé làng Gióng vươn vai
lớn lên thành tráng sĩ
"Nhổ bụi tre ngà đuổi giặc Ân"
(Tố Hữu)
Truyền thuyết xa xưa ấy thể hiện trọn vẹn tinh thần bất khuất, khát vọng tự do
của một dân tộc và sự trưởng thành của một dân tộc biết cầm vũ khí để đấu tranh
giành độc lập tự do
4.Đất nước còn hiện diện trong những
sự vật bình thường thân thuộc trong cuộc sống quanh ta
"Tóc mẹ bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn"
Đất nước đã có trong câu chuyện của mẹ, miếng trầu của bà, có trong tình nghĩa
đằm thắm của mẹ của cha, thậm chí chỉ một búi tóc sau đầu của mẹ cũng ẩn chứa
linh hồn dân tộc bởi lẽ đây là quan niệm thẩm mĩ mang bản sắc dân tộc. Đất
nước còn hiện diện trong nghĩa tình tưởng chừng gảin đơn, thủy chung, son sắt
của cha với mẹ "gừng cay muối mặn" gợi liên tưởng đến câu ca dao chứa
đựng niềm hạnh phúc ngọt ngào đầm ấm, bất chấp những gian khổ nhọc nhằn như
"Tay
bưng chén muối đĩa gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên
nhau"
5.Không chỉ khám phá cội nguồn của đất
nước , Nguyễn Khoa Điềm còn khiến người đọc cảm nhận về công lao vĩ đại của
nhân dân trên hành trình dựng nước và giữ nước
"Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng"
Đất nước được dựng nên từ trí tuệ, tâm huyết và đôi bàn tay cần cù, khóe léo của
nhân dân. Bằng đôi bàn tay cần mẫn tài hoa họ đã dựng lên những ngôi nhà che
mưa che nắng, dựng lên tổ ấm cho mình, đó cũng là khởi đầu cho không gian sống
đầu tiên của đất nước. Cách nói này còn gợi cho người ta sự hình thành và phát
triển ngôn ngữ khi con người biết đặt tên cho những sự vật xung quanh.
Đặc biệt hình ảnh hạt gạo " một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng"
đã gợi lên cả một quá trình lao động bền bỉ và đầy sáng tạo của nhân dân. Thành
ngữ "một nắng hai sương" diến tả những nhọc nhằn gian khổ của một dân
tộc sinh sống bằng nghề trồng lúa nước. Những động từ "xay, giã, giần,
sàng" gợi lại những vất vả gian nan và ca ngợi cả nét tài hoa tinh tế của
người lao động Việt Nam. Chẳng biết qua bao thế hệ và trí tuệ của bao người mới
có thể biến hạt gạo thành hạt thóc trắng ngần nuôi dưỡng chúng ta. Chỉ cần nhìn
lại những vật dụng và quá trình làm ra hạt gạo, ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp
bình dị mà vĩ đại của nhân dân. Có thể nói rằng mỗi dòng thơ đều gợi lên những
công lao to lớn của nhân dân, bằng chính cuộc sống của mình, họ đã góp phần tạo
lập và gìn giữ đất nước cho những thế hệ sau .
6. Đoạn thơ kết thúc bằng lời khẳng
định "Đất nước có từ ngày đó". Cách nói tưởng như vô hình nhưng lại
mở ra cả một trường liên tưởng. "ngày đó" là thời gian bao quát, là
ngày mở đầu để hình thành nên đất nước. Không ai biết "ngày đó" bắt
đầu từ bao giờ, chỉ biết rằng có từ rất xa xưa. Song có một điều rất rõ, trên
hành trình của mấy ngàn năm lịch sử ấy, đất nước đã được tạo lập giữ gìn nhờ
chính những những người bình thường. họ không để lại tên tuổi, nhưng bằng chính
cuộc sống thầm lặng và sức lao động của mình họ đã dựng lên quê hương xứ sở
II.20 câu tiếp theo :Định nghĩa đất nước
"Đất là nơi em đến trường
Nước là nơi em tắm
…
Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ"
1.4 câu đầu
Không chỉ tìm về cội nguồn hình thành của đất nước, nhà thơ còn muốn nêu
lên định nhĩa về hai tiếng thiêng liêng ấy
"Đất là nơi em đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất nước là nơi ta hẹn hò
Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm"
Hai tiếng "đất nước" khi thì được tách riêng, khi thfi được hợp lại
nhưng đều gắn liền với không gian riêng tư gần gũi của mõi người. Đất nước
không phải là một biên giới xa xôi trừu tượng, không phải là một cái gì đó vô
hình, trái lại, đất nước hiện hữu ngay bên cạnh chúng ta, tồn tại nagy trong
trái tim mỗi người. Đất nước là con đường nơi anh đến trường, nước là nơi em
tắm táp nô đùa, cũng lòa nơi nảy sinh tình cảm ngọt ngào trong trắng của tuổi
thanh xuân
Đất nước còn hiện hữu trong mảnh đất dưới chân người thiếu nữ khi cô đánh rơi
chiếc khăn tay trong nỗi nhớ nhung da diết. Nguyễn Khoa Điềm đã rất khéo léo
khi sử dụng chất liệu văn hóa dân gian
"Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất"
Từ cách sử dụng đó tác giả đã thể hiện tình yêu thương gắn bó với quê hương xứ
sở
Có thể nói Nguyễn Khoa Điềm đã bộc lộ một cách nhin sâu sắc mới mẻ về đất nước
bởi lẽ tình cảm thiêng liêng lớn lao ấy nhất thiết phải được hình thành từ những
gì gần gũi thân thương nhất trong tâm hồn mỗi người, một nhà gáio dục nổi tiếng
người Nga đã nói "Muốn dạy cho một đứa trẻ tình yêu đất nước thì trước hết
hãy dạy cho nó biết yêu các bậu cửa nhà mình"
2. Đất nước không chỉ gắn với những
kỉ niệm riêng của mỗi người mà đất nước còn là tài sản vô giá của cả dân tộc
"Đất là nơi "con chim phượng hòang bay về hòn núi bạc"
Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"
Thời gian đằng đẵng
Không gian mênh mông
Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ"
Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng nhiều chất liệu của thần thoại, truyền thuyết để
tái hiện sự hình thành không gian đất nước. Để có được không gian ấy phải trải
qua thời gian đằng đẵng với bao nhiêu công sức thế hệ con người, họ đã tạo nên
nơi sinh tụ cộng đồng dân tộc. như vậy đất nước vừa là cái gì đó nhỏ bé riêng
tư của mỗi người lại vừa lớn lao của dân tộc.
3.4 câu tiếp theo
Nhà thơ đã sử dụng một cách sáng tạo truyền thuyền "con rồng cháu tiên
" để gợi lại nguồn gốc cao quý của dân tộc
"Đất là nơi chim về
Nước là nơi rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng"
Câu thơ gợi lại niềm tự hào kiêu hãnh về nguồn gốc "con rồng cháu
tiên" đó cũng là cưo sở để hình thành nên tình đồng bào thiêng liêng bền vững
4.7 câu cuối
Từ nguồn gốc cao quý của dân tộc, tác giả đã gợi lại công sức của bao thế hệ
con người
"Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ"
Điệp khúc "những ai" trở đi trở lại trên các dòng thơ đã làm sống dậy
hình ảnh của mấy ngàn lớp người không tiếc mồ hôi xương máu để tạo dựng và gìn
giữ nước non này. Hệ thống từ ngữ chỉ thời gian "đã khuất",
"bây giờ", "mai sau" được nhà thơ sử dụng để nối liền quá
khứ, hiện tại, tương lai. Đóa là tình yêu và trách nhiêm của mỗi người đối với
quê hương đất nước. Họ đã đón nhận và gìn giữ những gì của thế hệ đi trước để
lại, và họ đã sáng tạo và hoàn thiện để lại cho thế hệ mai sau. Trong đó điều hệ
trọng thiêng liêng nhất chính là tình cảm cội nguồn
"Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ"
Hai dòng thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã mượn ý tứ của câu ca dao xưa
"Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba
Dù ai buôn bán gần xa
Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười"
Chỉ một câu ca dao cũng đủ nói lên sự gắn bó máu thịt của người Việt với quê
hương đất nước . dù có bộn bề công việc, dù có ngược xuôi nơi nào, họ cũng
luôn hướng vè cội nguồn, miền đất tổ linh thiêng đã trở thành biểu tượng, thành
linh hồn của đất nước
III.13 câu tiếp theo : tình yêu trách
nhiệm đối với quê hương đất nước
"Trong anh và trong em hôm nay
Đều có một phần đất nước
…
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời"
1.4 câu đầu
Từ cảm nhận về cội nguồn đất nước, Nguyễn Khoa Điềm đã dẫn dắt người đọc đến
một đinh nghĩa khái quát và sâu sắc : đất nước là sự hào quyện giữa cái riêng
và cái chung, giữa cá nhân và cộng đồng
"Trong anh và trong em hôm nay
Đều có một phần đất nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm"
Tác giả đã khẳng đinh mối quan hệ hai chiều giữa con người và đất nước. Đất cn
hiện diện ngay trong cuộc sống của mỗi người , gắn liền với những tình cảm
riêng tư nhất. Ngược lại mỗi con người cũng bằng chính cuộc sống của mình đã
góp phần tạo dựng và giữ gìn quê hương đất nước . Cho nên khi hai đứa "cầm
tay" thì đất nước đã hòa quyện cùng tình yêu lứa đôi hài hó nồng thắm.
2. 2 câu tiếp
.Đất nước còn hiện diện trong khoảnh khắc
"Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất nước vẹn tròn to lớn"
Đó là cảm giác ấm áp khi mỗi cá nhân được hào quyện vào cuộc đời chung. Khi đó
đất nước vẹn tròn to lớn với tình đồng bào, tình dân tộc bền chắc thiêng
liêng.
3 .3 câu tiếp.
Chính vì vậy đất nước là tài sản vô giá mà mỗi con người phải có trách nhiêmh
truyền lại cho các thế hệ mai sau
"Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang đất nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng"
Câu thơ chứa đựng niềm tin vào một tương lai tươi sáng đẹp đẽ. Hình ảnh
"con ta" không chỉ gắn liền với hạnh phúc lứa đôi mà còn là biểu tượng
cho ngày mai của quê hương xứ sở, nagy trong hiện tại đất nước còn chìm ngập
trong máu lửa đau thương nhưng tác giả vẫn hướng về một ngày mai tươi sáng.
4. Từ những suy nghĩ ấy, nhà thơ đã
nhắc nhở với mọi người gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, làm bổn phận thiêng liêng của
mỗi con người
"Em ơi em đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời"
Tác giả đã mượn lời tâm sự của một người yêu nói với người yêu để khẳng định
trách nhiệm của mỗi người với quê hương đất nước. Đất nước là máu thịt, là cuộc
đời, là tổ ấm của chính mình nên sự hiến dâng kia là tất yếu. cũng với lời tâm
tình tha thiết nhà thơ đã mở đầu những dòng thơ bằng lời kêu gọi thức tỉnh lơng
tri của những người Việt Nam
chân chính.
IV.12 câu tiếp theo :cảm nhận Đất nước ở phương diện không gian địa
lý, tư tưởng đất nước của nhân dân
"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
…
Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…"
Từ xưa đến nay, đất nước đã soi bóng vào biết bao nhêu sáng tác của các nhà
văn nhà thơ: Xuân diệu đã viết về đất nước như một con tàu xé sóng ra khơi
"Tổ quốc tôi như một con tàu
Mũi thuyền xé sóng mũi Cà
Mau"
Nhà thơ Chế Lan Viên cũng từng viết
về đất nước đầy tự hào
"Tâm hồn tôi khi tổ quốc soi vào
Như ngàn núi trăm sông diễm lệ"
Nhưng có lẽ chưa có ai có cái nhìn bao quát và sâu rộng về đất nước như Nguyễn
Khoa Điềm
1.4 câu đầu
Từ xưa đến nay, không gian địa lý vẫn được coi là yếu tố vật chất, cho nên nói
đến phương diện này người ta thường nghĩ đến bàn tay cảy tạo hóa, còn ở đây
Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến một cái nhìn độc đáo mới mẻ
"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thành Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng lên đất tổ hùng vương"
Tác giả đã liệt kê những đại danh thắng cảnh nổi tiếng của đất nước nhưng
không phải để ngợi ca thiên nhiên hào phóng mà hướng tới khẳng định công lao vĩ
đại của nhân dân. Điệp từ "góp cho" biến mỗi câu thơ thành một lời khẳng
định về những vai trò to lớn của con người nhỏ bé bình dị. chính họ bằng tình
yêu và nỗi đau, nghị lực và sức sáng tạo của mình đã alfm nên linh hồn cho núi
sông bờ cõi.
Đó là bao nhiêu thế hệ phụ nữ từng nhớ thương chờ đợi, từng chung thủy tha thiết
đã góp cho đất nước những núi Vọng Phu. Bởi lẽ nếu không có tình yêu của họ
thì núi mãi mãi chỉ là núi đá, vô tri vô giác chứ đâu phải là nhgf hòn Vọng Phu
vòi vọi ngắm trông. Cũng như phải có nghĩa tình đằm thắm của những cặp vợ chồng
yêu nhau thì mới có những đôi trống mái điểm tô cho không gian đất nước. Chính
ánh mắt của những con người tràn đầy niềm tin vào hạnh phúc, vào sức mạnh của
yêu thương đã phát hiện và góp cho đất nước những biểu tượng ngọt ngào kia.
Không chỉ thế trí tưởng tượng phong phú và tinh thần tự hào dân tộc còn sáng tạo
nên những truyền thuyết cho từng mảnh đất trở nên thiêng liêng vô giá. Những ao
hồ không còn là sản phẩm của tự nhiên mà đã in dấu vết chân ngựa của người anh
hùng làng Gióng. Đó là chứng tích của những truyền thống bất khuất, khát vọng tự
do.
Có thể nói rằng chính những con người bình dị "vô danh như cát",
"Sống trong cát, chết vùi trong cát-Những trái tim như ngọc sáng ngời"
(Tố Hữu) đã góp cho đất nước không phải những chiến công hiển hách mà bằng
chính cuộc sống tâm hồn phong phú, bằng sự hi sinh thầm lặng của mình. Chính
nhân dân qua bao thế hệ đã bằng xương máu của mình mà đặt tên cho hình sông thế
núi, tạo nên một đất nước đằm thắm nghĩa tình thủy chung. Đất nước có khi hiện
hình trong đau buồn với những núi Vọng Phu, đất nước đằm thắm nghĩa tình ở hòn
Trống Mái , đất nước trỗi dậy thành những nét kì vĩ nơi gót ngựa thành gióng
đi qua để lại…Từ điểm nhìn từ thiên nhiên kì thú, Nguyễn Khoa Điềm đã dạy cho
ta cách "cảm" để yêu thêm vẻ đẹp của đất nước muôn đời .
2.4 câu tiếp
Công lao vĩ đại của người dân còn được phản chiếu qua mọi chiều không gian địa
lý này
"Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho nước mình núi Bút, non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm"
Không gian được mở rộng tới vô cùng vô tận và ở nơi nào nhà thơ cũng chỉ cho ta
thấy bằng chứng về sức sáng tạo của nhân dân. Qua cái nhìn của họ, những dòng
sông hóa thành nguồn sống bồi đắp nên bờ bãi ruộng đồng phì nhiêu. Đến những
người học trò nghèo cũng góp cho quê hương những núi Bút non Nghiên bằng ước mơ
khát vọng của mình.
Đặc biệt Nguyễn Khoa Điềm liệt kê hàng loạt những đại danh mang sắc thái riêng
của miền Nam
để lần nữa khẳng định vai tò to lớn của nhân dân tên hành trình dựng nước giữ
nước : Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm. Phải chăng đso là những người đầu
tiên có công khai phá để đất đai hoang vu thành đồng ruộng xóm thôn. Có thể họ
đã xa khuất từ bao giờ nhưng tên tuổi của họ đã làm nên linh hồn cho những miền
quê ấy.
Những tầng tầng lớp lớp đại danh được bày biện trên trang giấy, chỉ thế thôi
cũng đã tái hiện được một Việt Nam
đẹp đẽ, dải đất "hình tia chớp" mà đi đâu ta cũng thấy biết bao nhiêu
danh lam thắng cảnh. Bằng bút pháp liệt kê Nguyễn Khoa Điềm đã dẫn dắt người đọc
đi khắp chiều dài đất nước từ Bắc xuống Nam, từ rừng xuống biển. Mọi nơi
trên đất nước , từ tên đất, tên sông, tên núi, tên gò bãi…đều có sự góp phần của
những người "không ai nhớ mặt đặt tên" những chính họ đã "gắn
bó và san sẻ", đã "hóa thân cho dáng hình xứ sở", để tên người
đã hóa thành tên của đất
3. 4 câu cuối
Từ hệ thống dẫn chứng đầy sức thuyết phục ấy, Nguyễn Khoa Điềm đã khái quát một
chân lý
"Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…"
Đoạn thơ có sự hòa quyện giữa chất tữ tình đằm thắm tha thiết và chất chính luận
sắc sảo. nó không chỉ mang đến một cách nhìn độc đáo về núi sông rừng biển mà
còn đánh thức trong tâm hồn mỗi con người tình yêu quê hương xứ sở, lòng biết
ơn đối với ông cha bởi lẽ nơi nào cũng in đậm dấu ấn của mấy nghìn thế hệ đi
trước . mỗi dòng sông con suối, mỗi dáng núi hay bờ bãi ruộng đồng đều có phần
máu thịt của người xưa. Họ đã khai phá đất đai bằng đôi abfn aty cần mẫn. Họ đã
mang tất cả tình yêu dồn cho đất đai sông núi để truyền lại cho các thế hệ sau
không gian địa lý phong phú, đẹp đẽ này. Chính vì vậy mỗi tấc đất là thiêng
liêng vô giá.
Chính nhân dân đã tạo đựng nên đất nước này, đã đặt tên đã ghi dấu ấn của cuộc
đời mình lên mỗi ngọn núi, con sông, tấc đất. nhưng không phải cũng có thể lắng
nghe và cảm hiểu được linh hồn của đất đá vô tri, không phải bất cứ ai cũng
nhìn thất những bóng dáng cuộc đời của nhân dân trong hình sông thế núi. Vì thế
vẻ đẹp của đoạn thơ được làm nên từ vẻ đẹp của một tâm hồn lịch lãm , sâu sắc của
một thi sĩ nhìn đất nước bằng sự tải nghiệm, tấm tình sâu nặng đối với nhân
dân vô danh.
V.26 câu tiếp theo :Đất nước ở phương diện lịch sử
"Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
…
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để đất nước này là đất nước nhân dân"
Khi tái hiện lịch sử, nhiều nhà văn nhà thơ khác thường nhắc tới những triều đại
vàng son,những vĩ nhân được lưu danh trong sử sách. Trong bình ngô đại cáo,
Nguyễn Trãi từng tạ hào khẳng định :"Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền
độc lập - Cùng hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương". Nhà thơ
Chế Lan Viên cũng từng dặt câu hỏi :"Tổ quốc bao giờ đẹp thế này
chăng?" và cũng tự trả lời
"Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nuyễn Du viết Kiều và đất nước hóa thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa bắc
Hưng đạo đại vương diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng"
1.5 câu đầu
Còn ở đây, Nguyễn Khoa Điềm muồn hướng người đọc đến một đối tượng khác
"Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
Vào bốn nghìn năm đất nước
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái con trai bằng tuổi chúng ta"
Tác giả muốn hướng người đọc đến những con người không trực tiếp hiện diện thậm
chí có vẻ lặng lẽ trên hành trình mấy ngàn năm dựng nước nhưng chính họ đã
sáng tạo nên lịch sử của đất nước. Trong mấy ngàn lớp người nối tiếp nhau
không dứt ấy, tác giả "Đất nước" đặc biệt đề cao thế hệ trẻ vì chính
họ là tương lai của đất nước. Họ gánh phần người đi trước để lại, tiếp nối
phát huy truyền thống của cha anh để rồi họ giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ
sau.
2. 4 câu tiếp theo
Bằng cách nói giản dị dân dã, Nguyễn Khoa Điềm đã khám phá và khẳng định đóng
góp to lớn của những con người bình thường lặng lẽ
"Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh"
Với đôi bàn tay cần cú nhẫn nại, họ đã khai phá đất đai, mở mang bờ cõi, tạo
nên ruộng đồng bờ bãi xóm thôn. Không chỉ dựng nước họ còn góp xương máu để giữ
gìn bảo vệ tổ quốc. Họ tự nguyện đảm đương xứ mệnh thiêng liêng một cách tự
nguyện như thể đó là điều tất yếu. những người con trai cầm vũ khí ra trận bảo
vệ quê hương xứ sở, những người vợ những người mẹ vượt lên nỗi đau, nỗi cô đươn
thương nhớ âu lo để đảm đang, gánh vác trọn vẹn việc nhà
Đặc biệt tác giả đã nhấn mạnh một truyền thống quý báu của người phụ nữ Việt Nam :đó tinh thần
bất khuất kiên cường :"Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh". Lời
thơ như gợi lại vóc dáng của Bà Trưng Bà Triệu và anh hùng liệt nữ đã làm nên
những trang sử hào hùng cho dân tộc.
3.9 câu tiếp
Chính vì vậy khi nhớ về quá khứ, Nguyễn Khoa Điềm đã làm sống dậy hình ảnh của
mấy ngàn lớp người vô danh
"Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều người anh hùng cả anh và em đều nhớ
Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái con tải
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm nên đất nước "
Nhà thơ không nhắc lại tên tuổi của những vĩ nhân thường được lưu danh trong sử
sách bởi lẽ đó là những anh hùng mọi người đều biết, công lao của những vĩ nhân
ấy đã được ca ngợi tôn thờ. ở đây Nguyễn Khoa Điềm muốn tô đậm tầm vóc lớn lao
phi thường của những con người nhỏ bé, bình thường. Họ chính là nhân dân, là bốn
nghìn lớp người chính bằng cuộc sống của mình đã làm nên đất nước
Trong chính những câu thơ này, Nguyễn Khoa Điềm đã phát hiện nét đẹp đặc trưng
của tâm hồn họ :Đó là sự giản dị, hi sinh thầm lặng, nhân dân không ồn ào phô
trương, không tô vẽ cho mình. Nhưng chính điều đó khiến nhân dân trở nên to lớn
vĩ đại. Thế hệ này nối tiếp thế hệ kia. Họ lặng lẽ tạo dựng và gìn giữ cho ta
tài sản vô gái này. Vẻ đẹp thầm lặng bình dị này của nhân dân cũng đã được nhà
thơ Nguyễn Duy ca ngợi
"Và vì thế nhân dân thường ít nói
Như mẹ tôi lặng lẽ suốt đời
Và như thế nhân dân cao vòi vọi
Hơn những ngôi sao trơ trọi cuối trời"
4. 8 câu cuối
Công lao vĩ đại của nhan dân sẽ được nhà thơ chứng minh bằng hàng loạt dẫn chứng
cụ thể, giàu sức thuyết phục
"Họ giữ và truyền cho ta hạt lúata trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từhòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên làng tên xã trong mỗi chuyến di dân
Họ dắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để đất nước này là đất nước nhân dân"
Không phải ngẫu nhiên mà tất cả các dòng thơđều bắt đầu bằng điệp từ "họ".
Bằng cách nói này Nguyễn Khoa Điềm lại một lần nữa khắc sâu ấn tượng về vai trò
không thể thiếu của nhân dân. Nhân dân không chỉ làm nên lịch sử mà còn sáng tạo
mội giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước
Điệp khúc "truyền cho" gợi liên tưởng đến một cuộc tiếp sức vĩ đại
trên hành trình mấy ngàn năm lịch sử đằng đẵng. bằng hệ thồng hình ảnh giàu ý
nghĩa ẩn dụ sâu xa,tác giả đã khám phá và ngợi ca công lao vĩ đại của nhân dân.
Đó là hình ảnh "hạt gạo" bé nhỏ bình thường nhưng đã kết tinh sức lực,
tâm huyết trí tuệ của bao nhiêu thế hệ con người. Ai đã là người tìm ra cây lúa
giữa hàng ngàn loài cây hoang dại khác?. Ai là người đã tìm ra cách gieo cấy
vun trồng để có được vụ mùa đầu tiên? Và ai đã rìm ra cách xay giã giần sàng biến
hạt lúa kia thành hạt gạo trắng ngần. Hành trình ấy đòi hỏi phải có sự tiếp nối
của nhiều thế hệ, người đi trước tích lũy kinh nghiệm và truyền lại, người đi
sau đón nhận, sáng tạo và hoàn thiện…
Nhân dân giữ gìn và truyền cho ta
ngọn lửa. Đó là ngọn lửa được thắp lên cho mỗi ngôi nhà, ngọn lửa mang theo hơi
ấm và sự sống cho con người. Song đó cũng là ngọn lửa biểu tựng cho tình cảm cộng
đồng ấm áp "tối lửa tắt đèn có nhau" của người Việt
Song có lẽ công lao vĩ đại nhất của nhân dân chính là sự gìn giữ và bảo tồn tiếng
mẹ đẻ, linh hồn của dân tộc. Chiến công phi thường ấy được nhà thơ thể hiện bằng
hình ảnh rất đôic thân quen, bình dị "Họ truyền giọng điệu mình cho con tập
nói. Đó là hình ảnh những người cha người mẹ dạy con mình bập bẹ ngh tiếng nói
đầu tiên. Bằng hình ảnh tưởng chừng như chẳng có gì đáng kể ấy, họ đã gìn giữ
tiếng mẹ đẻ từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phải nhìn về quá khứ mới nhing thấy
hết công lao của nhân dân :1000 năm bấc thuộc, 100 năm Pháp thuộc, kẻ thù tìm mọi
cách để đồng hóa, để xóa đi bản sắc riêng của dân tộc này. Vậy mà ông cah ta vẫn
gìn giữ vẹn nguyên tiếng Việt.
Cội nguồn để tạo nên sức mạnh kì diệu ấy chính là tình yêu thắm thiết sâu nặng
dành cho quê hương xứ sở. Khi khai pahs những vùng đất mới, họ không chỉ gánh
trên vai những vật dụng thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày mà còn mang theo cả
tên làng, tên xã, tình quyến luyến với quê hương, thủy chung với cội nguồn và
cũng là truyền thống của người Việt
Bằng sức mạnh của tình yêu đất nước, nhân dân đã tạo nên không gian địa lý,
khai phá ruộng đồng cho các thế hệ sau "trồng cây hái trái". Câu thơ
đã tái hiện lại bao nhiêu thế hệ đã đổ mồ hôi, góp công sức cho những dải đê điều,
mương máng bao quanh những xóm làng bừa bãi.
Không chỉ tạo dựng ruộng đồng, núi sông, bờ cõi, gìn giữ những truyền thống đạo
đức, nhân dân còn góp phần vào sự nghiệp giữ nước
"Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để đất nước này là đất nước nhân dân"
Tác giả đã khái quát và ngợi ca lịch sử hào hùng của một dân tộc trên suốt hành
trình dựng nước và giữ nước. Dân tộc ấy chưa bao giờ chịu cúi đầu khuất phục
trước bất kỳ thế lực nào. Nhân dân không chỉ đánh đuổi ngoại xâm để giành lấy tự
do mà còn tiêu diệt nội thù để đất nước hòa bình, thống nhất. nhân dân đã tạo
lập và truyền lại cho ta đất nước của nhân dân hiền hòa, bình dị mà anh hùng,
quật cường như nhà thơ Huy Cận từng ca ngợi
"Sống vững chãi 4000 năm sừng sững
Lưng đeo gươm tay miệt mài bút hoa
Trong lạ thực sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái, chan hòa"
VI.9 câu cuối :Cảm nhận đất nước về bề sâu văn hóa
"Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết yêu em từ thưở trong nôi
…
Người đến hát chèo đò vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi"
1.Câu đầu tiên
Tư tưởng đất nước của nhân dâncòn được tác giả khắc họa rõ nét trong đoạn thơ
cuối
"Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại"
Dòng thơ đầu tiên được ngắt thành hai vế, mỗi vế là một lời khẳng định về bản
sắc riêng của nước Việt. Đó là đất nước của nhân dân, do nhân dân tạo lập,
gìn giữ. Đó cũng là nước Việt của ca dao thần thoại. không phải ngẫu nhiên tác
giả nhắc tới 2 thể loại tiêu biểu nhất của văn học dân gian. Thần thoại thể hiện
cuộc sống qua trí tưởng tượng bay bổng của nhân dân. Còn ca dao bộc lộ thế giới
tâm hồn của nhân dân với tình yêu thương, với sự lãng mạn cùng với tinh thần lạc
quan. Đó là những tác phẩm do nhân dân sáng tạo, lưu truyền và có khả năng phản
chiếu tâm hồn, bản sắc dân tộc
2.4 câu tiếp
Cho nên Nguyễn Khoa Điềm đã mượn ý tứ của những câu ca dao quen thuộc để khám
phá nhiều nắt đặc trưng trong tính cách, tâm hồn người Việt
" Dạy anh biết yêu em từ thưở trong nôi
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre mà đợi ngày thành gậy
Đi trả thù không sợ dài lâu"
Nhân dân dạy ta biết yêu thương lãng mạn, đắm say thủy chung với những câu ca
"Yêu em từ thưở trong nôi
Em nằm em khóc anh ngồi anh
ru"
Đây là phát hiện mới của Nguyễn
Khoa Điềm. Bởi lẽ từ xưa đến nay nói đến nhân dân ng ta thường nghĩ đến những
phẩm chất cần cù chịu khó, bất khuất kiên cường. còn ở đây tác giả lại ngợi ca
vẻ đẹp trẻ trung lãng mạn trong tình yêu, những mối tình từ thưở ấu thơ, từ thời
"thanh mai trúc mã"
Nhân dân gìn giữ và truyền lại cho ta quan niệm sống đẹp đẽ, sâu sắc :"Biết
quý công cầm vàng những ngày lặn lội". Nhà thơ đã mượn ý tứ câu ca dao
"Cầm vàng mà lội qua sông - Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng"
để ngợi ca truyền thống trọng tình nghĩa của ông cha ta. Dẫu phải sống trong cuộc
sống triền miên khó khăn, nhọc nhằn, thiếu thốn nhưng nhân dân vẫn đề cao tình
nghĩa hơn của cải vật chất
Nói đến bản sắc riêng của tâm hồn
dân tộc không thể không nói đến sự bền bỉ phi thường trong chiến đấu
"Biết trồng tre mà đợi ngày thành gậy
Đi trả thù không sợ dài lâu"
Hai câu thơ đã gợi lại biết bao cuộc kháng chiến giữ nước trường kì của nhân
dân từ thưở lập nước, ông cha ta đã luôn phải đương đầu với nạn ngoại xâm. Cuộc
chiến đấu giành độc lập tự do nào cũng kéo dài hàng chục năm, hàng trăm năm.
Sau cả nghìn năm bắc thuộc nhân dân vẫn đứng lên giành chủ quyền, 10 năm chống
Minh, 80 năm chống Pháp, 30 năm chống Pháp-Mĩ…thử hỏi nếu không có sự kiên trì
bền bỉ và khát vọng tự do mãnh liệt, dân tộc bé nhỏ này làm sao có thể vượt qua
bao nhiêu khó khăn gian khổ, mất mát hi sinh.
3.4 câu cuối
Từ niềm tự hào về nhân dân tác giả đã thể hiện niềm tin vào một tương lai tươi
sáng, thanh bình cho đất nước
" Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về đất nước mình bắt lên câu hát
Người đến hát chèo đò vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi"
Nghệ thuật đối lập ở hai câu đầu cho thấy tâm hồn lãng mạn, yêu ca hát của người
Việt. dòng sông trước khi vào nước mình chỉ đơn thuần là bắt nước còn khi vào
đến nước mình thì dòng sông ấy bắt lên câu hát. Câu thơ gợi cho ta nhớ đến những
điệu hò hùng tráng trên sông Mã, ca Huế ngọt ngào trên sông Hương và điệu hò
kéo lưới mạnh mẽ ở miền trung, hay đờn ca tài tử tha thiết ở miền Nam. Sự tương
phản giữa hai hình ảnh "chèo đò, kéo thuyền vượt thác" và "câu
hát" đã ca ngợi tinh thần lạc quan bất diệt của dân tộc. cuộc sống dẫu còn
nhiều khó khăn gian khổ nhưng nhân dân chưa bao giờ mất niềm tin và hi vọng.
hình ảnh dòng sông bắt lên câu hát gợi "trăm màu" đã ẩn dụ cho một
ngày mai tươi sáng cho quê hơng đất nước.