Trang

Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn nghị luận xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nghị luận xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 15 tháng 10, 2011

“Tri thức là sức mạnh” ( nhà khoa học người Anh Phơ-răng-xít Bê-cơn ( thế kỉ XVI-XVII ) )


A. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

I/Hiểu được nội dung cơ bản của câu nói của Bê-Cơn

Trên trái đất này,con người là động vật có sức mạnh siêu việt nhất.Vì con người có trí tuệ.Và nhờ có trí tuệ mà con người chiến thắng được những kẻ thù thiên nhiên và kẻ thù xã hội,để tồn tại và phát triển từng bước đi từ thời mông muội đến thời đại văn minh như ngày nay tới nền khoa học công nghệ vi sinh,khoa học công nghệ thông tin và đang chinh phục không gian vũ trụ,cùng nền sản xuất tiên tiến tạo ra của cải vật chất và tinh thần ngày càng phong phú.

II/Đề này cần phải có các ý cơ bản sau:

1. Giải thích khái niệm : Thế nào là tri thức?
2. Vì sao “Tri thức là sức mạnh” ?
3. Chứng minh và bình luận sức mạnh tri thức qua các thời kì lịch sử.
4. Bình luận mở rộng

B.BÀI LÀM THAM KHẢO

I/Mở bài

Động vật mạnh mẽ nhờ có cơ bắp to khoẻ và móng vuốt sắc nhọn.Còn “con người là một cây sậy biết nói” (Đề các),tuy yếu ớt về mặt thể chất,nhưng lại có một sức mạnh vô địch về tinh thần,về trí tuệ,Nhớ có trí tuệ mà con người có hiểu biết,có tri thức.Đó là một thứ vũ khí vô song giúp con người có một sức mạnh vĩ đại có thể chiến thắng bất cứ kẻ thù nào.Vì thế ngay từ thế kỉ XVI-XVII,nhà khoa học Anh Phơ-răng-xít Bê-Cơn đã khẳng định “Tri thức là sức mạnh”.

II/Thân bài

1)Giải thích thế nào là “Tri thức”

Theo từ điển tiếng Việt : “Tri thức là những hiểu biết có tính chất hệ thống về sự vật nói chung”.Nhưng hiểu theo nghĩa rộng nhất,tri thức là những hiểu biết về thế giới tự nhiên,xã hội và cả chính bản thân mình.

2)Vì sao “tri thức là sức mạnh”

Nhà quân sự vĩ đại nhất của lịch sử cổ đại Trung Quốc là Tôn Tử đã có một câu nói rất nổi tiếng: “Biết địch biết ta,trăm trận đánh,trăm trận thắng”.Đúng như vậy, những tri thức tích lũy,được qua hoạt động thực tiễn và lao động,chiến đấu đã giúp cho con người hiểu biết được kẻ thù hai chân (là xã hội) và kẻ thù bốn chân (là tự nhiên) (theo cách nói của M.Gooc-ki).Từ đó,họ có một sức mạnh lớn lao,lần lượt đánh bại hai kẻ thù ấy,để làm chủ được cuộc sống làm chủ được chính mình và tiến dần từng bước từ xã hội nguyên thủy mông muội đến thời đại văn minh như ngày nay với khoa học chinh phục vũ trụ,khoa học công nghệ thông tin,khoa học công nghệ vi sinh cùng nền sản xuất tiên tiến, từng ngày từng giờ sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần ngày một dồi dào cho nhân loại.

3)Chứng minh và binh luận sức mạnh tri thức qua các thời kì lịch sử.

Lịch sử loài người hàng vạn năm nay đã đi qua biết bao “con đường đau khổ” và “con đường đói khát”,nhưng họ đã lần lượt vượt qua và tiến lên phía trước là nhờ sức mạnh của tri thức.Cuộc Đại chiến thế giới lần thứ hai,hơn 25 triệu người đã bị nướng trong biển lửa và dìm trong bể máu bởi sự tàn bạo của phát xít Đức.Nhưng nhờ sức mạnh của trí tuệ được kết tinh ở các kế hoạch phản gián,ở tên lửa Ca-chiu-sa,ở bom nguyên tử...mà Đồng minh đã đánh bại Hitle để cứu loài người khỏi họa diệt chủng.
 
Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta đã viết nên những trang hiển hách:phá Tống,bình Nguyên,diệt Minh,đuổi Thanh cũng chủ yếu là nhờ vào sức mạnh của tri thức. “Giặc Nguyên-Mông ác liệt;Ngựa dẫm nát Á-Âu” .Thế mà “Ngang tàng sang đất Việt”, “Ba lần vỡ tan đầu” (Thơ Tố Hữu) bởi sức mạnh trí tuệ Việt Nam được mài sắc ở cọc nhọn Bạch Đằng.

Bước vào thời đại Hồ Chí Minh,trong một khoảng thời gian ngắn,chúng ta phải đương đầu với mấy tên Đế quốc hùng mạnh nhất thế giới như Pháp,Nhật,Mỹ.Những trí thức Việt Nam nổi tiếng như kĩ sư Trần Đại Nghĩa,nhà khoa học Tạ Quang Bửu,giáo sư Tôn Thất Tùng,Đặng Văn Ngữ,Đàm Trung Đồn,Vũ Đình Cự...đã đem tri thức xây dựng ngành khoa học,giáo dục,khoa học y tế,khoa học quân sự...với những liều thuốc chống sốt rét đặc hiệu,với những vũ khí Ba-dô-ka,tàu phá thủy lôi...đã góp phần vô cùng quan trọng làm nên chiến công “Điện Biên lừng lẫy địa cầu” và ngày 30-4 “Toàn thắng về ta !” để có một Tổ quốc Việt Nam toàn vẹn “Từ Trà Cổ rừng dương đến Cà Mau rừng đước .Đỏ bình minh mặt sáng khơi xa”.

Chuyển sang thời kì xây dựng đất nước,những nhà khoa học,những kĩ sư trong các ngành kinh tế,bằng tri thức của mình đã “bắt núi phải cúi đầu,bắt sông phải nhận tội” để làm nên “nhiều điện thép cho con người hạnh phúc hôm nay”.Từ một nước thường xuyên thiếu đói vào dịp giáp hạt,mà nay chúng ta hàng năm đã xuất khẩu trên 4 triệu tấn gạo đưa về cho đất nước hơn 2 tỉ Đô la.Đấy chẳng phải là nhờ tri thức sâu rộng của các viện sĩ Lương Đình Của,Vũ Tuyên Hòang...lai tạo nhiều giống lúa mới có năng suất,chất lượng gạo gấp nhiều lần so với ngày xưa đó sao?Cũng nhờ có tri thức hiện đại mà chúng ta đã và đang ngăn chặn được những kẻ thù bệnh tật khủng khiếp nhất của thời đại ngày nay như dịch SARS,H5N1,sốt rét...v.v..

4)Bình luận mở rộng

Rõ ràng là tri thức có một sức mạnh to lớn như vậy.Nó có thể giúp con người đánh bại mọi kẻ thù,vượt qua mọi trở ngại.Tri thức là nguồn sức mạnh của một quốc gia nói chung,của một con người trong đời sống thường ngày nói riêng.Ngược lại,ngu dốt là yếu hèn,ngu dốt là một bi kịch.Nhưng đáng tiếc là trong xã hội chúng ta ,vẫn còn những người chưa biết quý trọng tri thức.Họ chưa coi việc học nhằm mục đích là có nhiều tri thức,nhiều hiểu biết để làm con người có đầy đủ sức mạnh để chiến thắng bản thân và chiến thắng mọi kẻ thù hai chân và bốn chân,mà họ chỉ coi mục đích việc học là cốt có tấm bằng để tìm kiếm công ăn việc làm hoặc để thăng quan tiến chức.

III/Kết luận

Nhận rõ sức mạnh lớn lao của tri thức,Lê-nin,vị lãnh tụ thiên tài của giai cấp Vô sản đã khẳng định “Ai có tri thức thì người ấy có được sức mạnh!”.Mà muốn có tri thức thì phải “Học!Học nữa!Học mãi!”.Có như thế,chúng ta mới có thể biến Việt Nam thành một quốc gia giàu mạnh,công bằng,dân chủ và văn minh để “Sánh vai với các cường quốc năm châu” như Bác Hồ hằng mong mỏi.

mục đích học tập do UNESCO đề xứng “ Học để biết, học để làm, học để chung sống, học tập để làm người “


A. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

1. Giải thích :

- Thế nào là “ Học để biết”
- Thế nào là “ Học để làm”
- Thế nào là “ Học để chung sống”
- “Học để làm người” là gì?

2. Bình luận :

- Học là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người.
- Ai cũng phải học tốt để làm người phục vụ sự phát triển bản thân, gia đình và xã hội.
- Học tập suốt đời, học mọi lúc, mọi nơi.
- Cần có phương pháp học tập thích hợp để có hiệu quả cao.
- Học đi đôi với hành.

3.Mở rộng vấn đề : Phê phán tính lười học, nản chí trong học tập của một bộ phận thanh niên học sinh.

4. Liên hệ bản thân : tự giác chăm học, học đi đôi với hành.

5. Sử dụng tổng hợp các thao tác : giải thích, bình luận, chứng mình.

B. BÀI LÀM THAM KHẢO

Mở bài :

Mục đích học tập đúng đắn sẽ làm cho người ta say mê học tập và học tập có kết quả. Nhưng mục đích học tập thế nào là đúng? UNESCO đã giúp ta trả lời câu hỏi đó : “Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình”

Thân bài:

1. Học để có tri thức

“ Học để biết” tức là học để có tri thức. Tri thức về cuộc sống, về tự nhiên và xã hội, về nghề nghiệp chuyên môn, không ai sinh ra đã có tri thức. Học tập là cách duy nhất để có tri thức. Không học sẽ không bao giờ biết “Nhân bất học bất tri”. Trẻ em như trang giấy trắng. Học tập tạo nên tri thức tích lũy của mỗi người.

2. Học để có nghề, có việc làm

“ Học để làm” : học để có nghề nghiệp, việc làm, để lao động nuôi sống mình và góp phần phát triển xã hội, đất nước. “ Nhất nghệ tinh nhất thân vinh”. Học nghề nghiệp tinh thông sẽ có năng suất lao động cao, giải quyết công việc dễ dàng, thuận lợi. Do xác định rõ mục tiêu “Học để làm “ nên mọi người sẽ cố gắng “học đi đôi với hành” . Học nghiêm túc, chu đáo, kỹ càng đề làm việc được tốt. Sinh viên Y khoa có học giỏi thì khi trở thành bác sĩ mới có thể chữa bệnh, cứu người, học dốt có khi lại làm hại người “ tiền mất tật mang”.

3. Học để có kỹ năng sống, không để “chết vì dốt”

“Học để chung sống” là học để có kỹ năng sống, dễ dàng thích nghi với mọi môi trường, hoàn cảnh sống, hòa thuận, hòa nhập với cộng đồng, với mọi người xung quanh. Người có học , có hiểu biết thường sống có lý, có tình, tính cách, đức hạnh thu phục lòng người, thường được mọi người yêu quý, kính trọng.

4. Học để có phẩm chất đạo đức con người.

“Học để làm người” là học để có phẩm chất đạo đức, có chuyên môn nghề nghiệp cao, thành công trong cuộc sống, nhờ học vấn mà người ta sống tự tin, tự trọng, hiểu đời, hiểu người, có nhân cách, có cá tính và thành đạt. Học để trưởng thành, và được anh em, bè bạn, đồng nghiệp tôn trọng, chính là “học để làm người”

5. Học tập là quyền lợi, và nghĩa vụ của mỗi người.

Mục đích học tập mà UNESCO nêu trên cho chúng ta thông điệp rằng học tập là quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người. Ai cũng phải học, học cho tốt để làm người, phục vụ cho bản thân và cho gia đình , xã hội.
Từ mục đích học tập như vậy mà UNESCO đưa ra phương châm “Học tập suốt đời”. Để biết, để làm, để chung sống và để tự khẳng định mình, người ta phải học tập suốt đời. Xã hội ngày nay đã phát triển đến mức có các phương tiện thích hợp để mọi người học tập suốt đời.

Xác định mục đích học tập đúng đắn là điều rất quan trọng để chứng mình ta cố gắng vượt mọi khó khăn, chăm học và học giỏi. Nhiều bạn trẻ chưa xác định được động cơ học tập nên lười học, trốn học, quay cóp và thiếu trung thực trong học tập. Học tập miễn cưỡng, “Đi học cho cha mẹ”. Học mà không có niềm vui thì làm sao mà học tốt được.

6. Học đi đôi với hành

Phương pháp học tập tốt và phù hợp là rất quan trọng. “Học đi đôi với hành”, tăng cường tự học để “ Học tập suốt đời”, học mọi lúc mọi nơi, chú ý quan sát thực tế cuộc sống, liên hệ, suy nghĩ, sáng kiến, sáng tạo trong khi kết hợp học với hành để có kết quả học tạp tốt và thành công trong cuộc sống.

Để đạt mục tiêu” Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để làm người”, chúng ta phải học một cách sáng tạo. Học một cách thực chất và biết vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống. Học để có kỹ năng lao động cao, có kết quả việc làm tốt. Kết quả học tập phải cao, được xã hội công nhận (đạt danh hiệu học sinh giỏi, học sinh đậu thủ khoa trong các kỳ thi). Người đã đi làm thì nhờ học vấn cao mà thể hiện được năng lực làm việc, được đồng nghiệp và cơ quan tín nhiệm, cân nhắc, đề bạt, thành đạt trong sự nghiệp. “Thực tiễn là tiêu chuẩn chân lý”, là thước đo học vấn của mỗi người chúng ta.

Người có học, người có tri thức thể hiện ở kỹ năng sống thành thục, ở quan hệ xã hội tốt đẹp, nhờ không ngừng hoàn thiện bản thân mình. Nhờ có học mà chúng ta “không chết vì dốt”, biết tự bảo vệ mình như biết cách phòng bệnh, không để nhiễm phải HIV, AIDS, virust viêm gan B…. Lối sống giản dị, khoa học, văn mình là kết quả của học vấn.

Mục đích học tập do UNESCO đề xướng không cho riêng học sinh, sinh viên, mà cho con người nói chung. Múc đích học tập đúng đắn và có cơ sở khoa học cao, tổng kết từ thực tiễn hàng nghìn năm đó của UNESCO luôn nhắc nhở mọi người hãy luôn luôn học tập, suốt đời học tập.

Xã hội, nhà nước và nhân dân, các hội khuyến học phải tuyên truyền giáo dục, nêu cao, biểu dương tinh thần ham học, hiếu học, làm cho xã hội ta trở thành “ xã hội học tập”

Kết luận:

Lời đề xướng về mục đích học tập của UNESCO là ngọn đèn soi sáng cho mọi người, đặc biệt là thế hệ trẻ trong học tập và làm việc. Em phấn đấu học thật tốt.


"Không có việc gì khó / Chỉ sợ lòng không bền / Đào núi và lấp biển / Quyết chi ắt làm nên"

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
 
I. Hiểu được nội dung cơ bản lời khuyên của Bác.

Bằng hình ảnh tượng trưng, với lối nói cường điệu, qua 4 câu thơ trên, Bác Hồ muốn khuyên thanh niên một bài học có ý nghĩa như là chân lý của cuộc sống, của sự thành đạt trong sự nghiệp. Không có công việc nào là dễ dàng, mà bất cứ việc gì cũng khó khăn gian khổ. Nhưng nếu chúng ta có sự "bền lòng" , kiên trì vượt khó, không nản chí, sờn lòng, thì chẳng có "việc gì" là "khó" cả. Thậm chí, nếu ta có sự quyết chí và một nghị lực mạnh mẽ vươn lên trên mọi khó khăn gian khổ, thì dù là công việc lớn lao như "đào núi" và "lấp biển" , chúng ta cũng có thể chắc chắn "làm nên".

II. Đề này cần phải đạt được các ý cơ bản sau:

1. Cái khó khăn không phải là ở bản thân công việc mà chính là ở lòng người.
2. Khi đã "bền" lòng, "quyết chí", thì dù công việc khó đến mấy, cũng có thể hoàn thành để làm nên "sự nghiệp lớn".
3. Chứng minh bằng dẫn chứng thực tế.
4. Bình luận mở rộng

III. Phương pháp nghị luận:

Vận dụng trường hợp các phương pháp nghị luận: giải thích, chứng minh, bình luận.

BÀI LÀM THAM KHẢO

I. Mở bài:

Trên hành trình đến chân trời tương lai của sự nghiệp, con người phải đương đầu với biết bao thử thách chông gai như cuộc đi đường thường ngày "Đi đường mới biết gian lao; Núi cao rồi lại núi cao trập trùng". Chúng ta muốn leo "lên đến tận cùng" để thu vào "tầm mắt muôn trùng nước non", nghĩa là muốn thu được thắng lợi vẻ vang đòi hỏi con người phải bền gan, vững chí, phải có lòng quyết tâm, kiên trì, tinh thần vượt khó. Nhằm giáo dục cho thế hệ trẻ về phẩm chất tinh thần đặc biệt ấy, trong một lần nói chuyện với thanh niên, Bác Hồ đã ân cần khuyên bảo:
"Không có việc gì khó
Chỉ sợ lòng không bền
Đào núi và lấp biển
Quyết chi ắt làm nên"

II. Thân bài.

1- Cái khó không phải là bản thân công việc, mà chính là ở lòng người.

Bằng kiểu câu khẳng định với hai vế điều kiện - kết quả, ngay ở hai câu thơ đầu, Hồ Chí Minh, "tinh hoa của dân tộc, khí phách của non sông" , đã nêu bật một chân lý hiển nhiên của thực tế cuộc đời. Trên thế gian này, "không có việc gì khó" - Việc khó là việc khi làm đòi hỏi nhiều công sức, tâm trí và nghị lực mới làm được. Tuy nhiên sự quyết định của thành bại không phải là ở bản thân công việc dễ hay "khó" , mà là ở chính tinh thần con người. Việc gì cũng có thể làm được miễn là có sự kiên trì, ý chí quyết tâm, nghĩa là "bền lòng" . Bền lòng ở đây là chỉ lòng kiên trì, không bao giờ nản chí, đầu hàng, không thay đổi lập trường mà phải đem hết tâm sức "mài vào đá vào sắt" "mài vào đêm vào ngày" , quyết tâm làm bằng được mới thôi, dù cho có gặp muôn vàn khó khăn, thử thách. Ông Nguyễn Bá Học trước đây cũng đã khẳng định điều đó bằng một câu nói rất chí lý: "Đường đi khó không phải vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông". Như vậy ở hai câu thơ đầu tiên, Bác Hồ đã đặc biệt đề cao vai trò của tinh thần, ý chí, sự kiên trì, vượt khó của con người trong khi thực hiện các công việc, đặc biệt là những công việc "khó".

2. Khi đã "bền lòng", "quyết chí" , thì dù công việc khó đến mấy cũng có thể hoàn thành, để làm nên "sự nghiệp lớn".

Nếu khi con người đã có được một tinh thần kiên trì, một ý chí, quyết tâm vượt khó thì dù công việc khó khăn, to lớn bằng trời, biển, chúng ta cũng có thể làm được và hoàn thành một cách tốt đẹp:

"Đào núi và lấp biển
Quyết chí ắt làm nên"

Ở hai câu này, Bác đã dùng thủ pháp cường điệu và hình ảnh tượng trưng "đào núi và lấp biển" để chỉ những công việc lớn lao dường như nằm ngoài sức lực và khả năng của con người. Nhưng dù là công việc "đào núi" và "lấp biển" khó khăn lớn lao đến đâu đi nữa, nếu con người "quyết chí" , bền bỉ dồn mọi sức lực, trí tuệ quyết làm bằng được, bất chấp mọi khó khăn chủ quan và khách quan "thắng không kiêu, bại không nản" thì cũng hoàn thành, cũng "ắt làm nên". Bác dùng chữ "ắt" càng tăng thêm tính chất khẳng định. "Ắt" theo từ điển tiếng Việt nghĩa là "chắc chắn" "nhất định sẽ" (Từ điển tiếng Việt trang 59)

3. Chứng minh bằng dẫn chứng thực tế

Lịch sử nhân loại và đất nước ta đã có biết bao câu chuyện, bao tấm gương nêu cao sức mạnh phi thường của lòng kiên trì, nghị lực và lòng quyết tâm của con người trong cuộc sống. Từ câu chuyện Ngu Công dời núi đến câu chuyện "Mài sắt nên kim" ; từ tấm gương anh hùng Trần Quốc Toản, Phạm Ngũ Lão, Trần Bình Trọng...đến Võ Thị Sáu, Mạc Thị Bưởi, Lý Tự Trọng, Nguyễn Văn Trỗi....trong sự nghiệp cứu nước vẻ vang, tất cả họ đều đã vượt qua biết bao khó khăn thử thách tưởng chừng khó có thể vượt qua nổi bằng một sự "quyết chí" vượt bậc để hoàn thành nhiệm vụ, "làm nên" những chiến công chói lọi. Bác Hồ không chỉ răn dạy thanh niên về sự bền lòng, vững chí mà Người còn là một tấm gương sáng ngời về sự "kiên trì" "nhẫn nại" và "quyết chí" . Vào lúc vận mệnh Tổ quốc như ngàn cân treo đầu sợi tóc, Người đã nói một câu nói nổi tiếng như một lời hịch "Dù đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành cho được độc lập". Lời hịch ấy thổi hồn và truyền sức mạnh ý chí cho toàn dân tộc để lập nên một "Điện Biên nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng". Vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, lớp lớp cháu con quyết chí mở đường Hồ Chí Minh huyền thoại trên rừng Trường Sơn và trên biển Đông để "giành độc lập" , thống nhất Tổ Quốc. Và kết quả là ngày 30/04/1975 "Bác Hồ ơi! Toàn thắng đã về ta":

"Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp
Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta
Chúng con đến, xanh ngời ánh thép
Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa"
(Tố Hữu)

Trong sự nghiệp xây dựng đất nước, cuộc sống hoà bình hôm nay, noi theo tấm gương Bác Hồ, nối tiếp các đàn anh lớp trước, hàng ngày hàng giờ, thế hệ mới của chúng ta đã xuất hiện biết bao tấm gương đẹp về lòng kiên trì, chí lớn đã làm nên "sự nghiệp lớn". Đó là bác sĩ Nguyễn Tài Thu, người đã đưa nền y học châm cứu Việt Nam thành một thương hiệu nổi tiếng trên thế giới. Đó còn là vận động viên wushu Thuý Hiền, vận động viên nhảy cao Bùi Thị Nhung, vận động viên cử tạ Hoàng Anh Tuấn đã giành được Huy Chương Vàng thể thao Segame để cho lá cờ đỏ sao vàng của Tổ quốc Việt Nam kiêu hãnh tung bay trên đấu trường Đông Nam Á. Và đây là tấm gương "kiên trì", "quyết chí", "bền lòng" , vượt qua số phận hiểm nghèo của mình để làm nên sự nghiệp phi thường như là "đào núi" và "lấp biển" vậy. Đấy là anh Bạch Đình Vinh được chương trình ti vi "Người đương thời" hết lời ca ngợi: vì một tai nạn giao thông, anh Vinh bị bại liệt toàn thân, bị chấn thương nặng nội tạng, khuôn mặt bị biến dạng và mất luôn cả tiếng nói. Thế nhưng với một ý chí, nghị lực phi thường, anh đã không gục ngã, mà đứng lên viết tiếp trang cổ tích của cuộc đời mình: sinh viên ba trường Đại học: Giao thông vận tải, Thương Mại, Khoa công nghệ thông tin - Đại học Bách Khoa Hà Nội.

4. Bình luận mở rộng

Lời dạy của Bác là một bài học vô cùng quý giá cho mỗi chúng ta về phương châm sống. Nó đã trở thành bí quyết quan trọng nhất giúp chúng ta thực hiện ước mơ hoài bão của bản thân. Lời dạy đó còn giúp ta có ý chí nghị lực để vượt qua những khó khăn lớn lao thường gặp, để quyết đạt cho được ước mơ của mình. Như thế cũng có nghĩa là lời dạy của Người còn đem lại cho ta lòng tự tin. Khi có được lòng tự tin, chúng ta sẽ có một sức mạnh tinh thần vô địch để làm nên tất cả.
Tuy nhiên, chúng ta nên phải hiểu lời khuyên của Bác một cách đúng đắn và thiết thực. Quyết tâm, ý chí của ta phải đi đôi với hành động, chứ không được quyết tâm suông mà có thể làm nên được sự nghiệp lớn. Và những ước mơ, khát vọng của ta phải phù hợp với điều kiện thực tế, hoàn cảnh chủ quan, khách quan, những tiền đề vật chất nhất định, nếu không chúng ta sẽ trở thành những người phiêu lưu mạo hiểm, những kẻ mơ mộng hão huyền. Hiểu như vậy, chúng ta càng thấm thía lời dạy của Bác Hồ vô cùng đúng đắn.

III. Kết luận

Tóm lại bốn câu thơ trên của Bác là một lời khuyên vô cùng quý báu. Bằng trí tuệ sắc sảo, Bác đã vạch ra chân lý, bằng trái tim tràn đầy tình yêu thanh niên, Bác đã ân cần khuyên nhủ, động viên mọi thế hệ hôm nay và mai sau có được phương pháp hành động và suy nghĩ đúng đắn nhằm chiếm lĩnh được những "đỉnh Ôlimpia" của cuộc đời và sự nghiệp.

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

" Thành đạt không phải do người ngoài giúp mà do chính lòng tự tin ". ( Lincolin )

Mọi thành công trong cuộc sống bao giờ cũng bắt nguồn từ ý chí, nghị lực và lòng tự tin của chính bản thân mình. Quả đúng vậy nên Lincolin đã khẳng định " Thành đạt không phải do người ngoài giúp mà do chính lòng tự tin ". Câu danh ngôn như một lẽ sống ở đời, là cái cốt tinh tế chắt lọc từ cuộc sống, giá trị cao quý của nó như đánh thức mọi suy nghĩ của mọi con người.

Trong cuộc sống bao giờ cũng có những thành công và những thất bại, nhưng rồi tất cả sẽ dẫn tới một cái cao cả đó chính là sự thành đạt. Con người ta ai cũng cầu mong cho mình được thành đạt, nhưng phải hiểu được rằng không ai có thể giúp ta thành đạt mà ta phải tự làm nên điều đó, và ta chỉ có thể thành đạt khi ta luôn có lòng tự tin ; sự tự tin ở bản thân là một yếu tố không thể thiếu để dẫn tới con đường thành công.

Trong bất cứ một công việc nào, nếu có lòng tự tin chắc chắn sẽ thành công, bởi trong thâm tâm ta lúc nào cũng tự tin vào khả năng của mình. Điều đó như một động lực thúc đẩy ta tìm mọi cách để hoàn thành tốt công việc. Trên đời này không có sự thành đạt nào mà không nhờ tới lòng tự tin, và cũng chẳng có sự thành đạt nào nhờ sự trợ giúp của người ngoài. Tất cả mọi thành công trong cuộc sống đều tự bản thân ta làm lấy. Người ngoài như bố mẹ, anh em, bạn bè chỉ là những người động viên ta khi bị vấp ngã trên chặng đường đời; họ không thể dùng bàn tay của họ để nâng ta lên tầm thành đạt, họ cũng không thể dẫn dắt ta đi tới thành công.

Trong lịch sử loài người đã có không biết bao nhiêu những thiên tài của nhân loại, họ đã cống hiến tài năng và sức lực của mình cho thế giới, và họ chính là những người thành đạt. Tồn tại song song với điều đó, họ là những người luôn luôn có lòng tự tin với chính bản thân mình. Trên chặng đường phát triển của họ, họ luôn nghĩ rằng mình có thể làm được, quả thực đó là một lòng tự tin cao độ ở những con người biết suy nghĩ và luôn chăm lo cho lý tưởng sống của mình.

Tuy nhiên lòng tự tin không thể vượt quá giới hạn của nó, nó phải có mục đích và phải được sử dụng đúng cách. Quá giới hạn của lòng tự tin sẽ dẫn đến một điều xấu khó lường trong cuộc sống, đó là tính tự kiêu, một tật xấu mà hiện nay xã hội đang lên án. Tự kiêu là sự tin tưởng quá mức vào bản thân mình, tự cho mình là hoàn thiện nhất. Cách nghĩ như vậy chẳng những không mang lại thành công mà còn nhấn chìm cuộc đời xuống hố sâu của sự thất bại. Chính vì vậy con người ta ai cũng luôn phải có lòng tự tin trong mình, nhưng tự tin phải có giới hạn, bởi chỉ có thế ta mới có thể đi tới thành đạt.

Câu nói của Lincolin cho đến bây giờ vẫn còn có giá trị đối với tất cả mọi người. Bởi vì đó là lẽ sống, là ngọn đèn chỉ đường để đi tới thành công. Tất cả chúng ta hãy cùng biết trân trọng điều đó, nó sẽ là động lực để giúp ta đạt được mọi điều ta muốn trong cuộc sống.

"Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai kẻ khác để thỏa mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai mình."

*****gợi ý:

- Giới thiệu được vấn đề nghị luận: suy nghĩ về “kẻ mạnh” trong mối quan hệ giữa người và người.

- Giải thích: Kẻ mạnh không phải là kẻ chứng tỏ sức mạnh bằng những hành động độc ác, chà đạp người khác. Người mạnh là người dùng sức mạnh, khả năng của mình để giúp đỡ, yêu thương người khác.

- Biểu hiện cụ thể: Người mạnh là người có tài năng và biết dùng khả năng, tài năng ấy để gánh vác trách nhiệm, hi sinh, giúp đỡ (bảo bọc, yêu thương, quan tâm, chia sẻ khó khăn … ) người khác.(cần có dẫn chứng để làm sáng tỏ ý.)

- Lên án, phê phán những kẻ sống bất nhân, lấy sức mạnh, tài năng của mình chà đạp người khác.

- Rèn luyện lối sống: dùng tài năng, khả năng của mình để làm những việc tốt đẹp.

*****Dàn bài gợi ý:

1. Kẻ mạnh và kẻ yếu: kẻ mạnh là gì (là người có tài, có địa vị đươợ người khác kính nể, tôn trọng) ? Tại sao lại có kẻ mạnh và kẻ yếu, từ đó rút ra định nghĩư 2 từ mạnh yếu, giải thích câu nói.
Nếu một xã hội mà luôn có một bên toàn kẻ mạnh và một bên toàn kẻ yếu thì sẽ ra sao. từ đó phải làm gì ?

2. Thế nào là " ích kỷ" dẫm lên vai người khác ? Hàh động này đem lại điều gì (người bị hại mãi không ngoc đầu dậy được, người hại cũng mất dần đi nhân cách, dần trở nên thoái hoá, biến chất, xã hộ nsẽ tràn ngập những mưu mô, tính toán, cơ mưu; người ta sợ hãi người đó vì thù oán, chứ không pahỉ vì kính nể)), hành động đó có xứng đáng với kẻ mạnh đã giải thích ở trên không ?

Thế nào là giúp đỡ người khác đứng trên đôi vai của mình ? (đièu đó nâng cao địa vị của người giúp, làm hình ảnh họ tốt đẹp lên trong mắt moị người), có lợi gì cho xã hội.

3. Thực tế, biểu hiện: Hãy so sánh

. Một ông chủ luôn luôn chèn ép, bóc lột nhân viên, một ông vua không biết "khoan sức dân", số phận của họ như thế nào, trong sách vở có ghi rất rõ. Trái lại, nếu biết khoan sức dân, họ sẽ được điêu gì.

. "ân đền, oán trả", nếu chèn ép những người yếu hơn mãi, liệu họ có thể giữ được địa vị không (" dân có thể đảy thuyền, cũng có thể lật thuyền"- nguyễn trãi)

...

4. Từ ý 2 và 3 rút ra: nghĩa rộng: kẻ mạnh và kẻ yếu trong xã hội tồn tại song song là một điều tất yếu (do cạnh tranh àm có), nhữung để xã hội phát triển được, thì kẻ mạnh, đại diện cho một lưcụ lượng tiên tiến hơn, có quyền hạn lớn hơn, sẽ pahỉ duy trì, không pahỉ ơphá bỏ xã hội đó.

Nghĩa hẹp: một người muốn thành kẻ mạnh luôn luôn có một phần giúp đỡ của người khác, dừng quên đi quá khứ của mình. hãy nghĩ đến mọi nòi nhiều hơn

5. Tổng kết: bạn nghĩ gì sau khi đọc câu nói này (bạn có ướcmuốn trở thành người thành đạt không. bán ẽ làm gì khi đạt được ước muốn đó)

*****Bạn có thể định nghĩa nó trên nhiều phương diện:

Là người có quyền lực, thế mạnh, về:

- Tiền bạc.

- Địa vị.

- Mạnh trên nhiều phương diện khác như: vẻ bên ngoài,...

- Về khả năng giúp đỡ người khác. Như câu nói mà Hộ trong "Đời thừa" đã nói: "Kẻ mạnh ko phải là kẻ giẫm đạp trên vai ngừoi khác để thỏa mãn lòng ích kỉ, kẻ mạnh chính là kẻ biết nâng đỡ người khác trên chính đôi vai của mình".

=> Kẻ mạnh ko phải là có tiền bạc, ko chỉ là có địa vị trong xã hội mà kẻ mạnh quan trọng hơn chính là kẻ có thể giúp đỡ ngừoi khác với chính khả năng của bản thân mình.

Bạn có thể bổ sung thêm theo như suy nghĩ của bạn

*****Bài mẫu:

Từ xưa đến nay ,có rất nhiều định nghĩa về kẻ mạnh trong xã hội được mọi người đưa ra như : kẻ mạnh là người có sức khỏe, có tiền bạc, quyền lực ….Nhưng đối với nhà văn Nam Cao, ông cho rằng :” Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai người khác để thỏa mãn lòng ích kỉ. Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai của mình.” Đây là một nhận định rất mới mẻ, sâu sắc và giàu tính nhân đạo, khiến cho nhiều người phải suy nghĩ.

Để hiểu về ý nghĩa lời nhận định của nhà văn Nam Cao, ta có thể chia nó thành hai vế. Vế thứ nhất là : “Kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm lên vai người khác để thỏa mãn lòng ích kỉ” .Trong vế câu này, nhà văn đã dùng hành động “ giẫm lên vai” để phủ định “kẻ mạnh”.Vì sao lại vậy? Hình ảnh “đôi vai” trong câu mang ý nghĩa ẩn dụ, gợi sự nương tựa, chở che .Vì vậy hành động “giẫm lên vai người khác” chính là để chỉ sự đè nén, chèn ép, áp bức người khác. Dùng hành động “giẫm lên vai “ để phủ định “kẻ mạnh", nhà văn muốn chúng ta hiểu rằng : kẻ mạnh không phải là kẻ chỉ biết chèn ép, áp bức người khác, không cần biết người khác ra sao để phục vụ lợi ích bản thân, thỏa mãn lòng ích kỉ cá nhân.

Nếu vế thứ nhất là một lời phủ định thì vế thứ hai : “Kẻ mạnh chính là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai của mình” lại là một lời khẳng định. Cũng vẫn là hình ảnh “đôi vai” , nhưng trong vế câu này nhà văn Nam Cao đã dùng hành động “ nâng đỡ người khác trên đôi vai của mình“ để khẳng định “kẻ mạnh”.Không cần phải giải thích nhiều, ta có thể thấy ngay ý nghĩa của vế câu này : kẻ mạnh là người biết giúp đỡ người khác, giúp người khác vươn lên, luôn sống vì người khác. Vậy từ hai vế câu trên, ta có thể thấy được ý nghĩa khái quát của lời nhận định , mà nhà văn Nam Cao muốn người đọc hiểu là : Kẻ mạnh phải là người có nhân cách, phẩm chất tốt, có bản lĩnh vững vàng để không chỉ tự mình đứng vững trong cuộc sống mà còn có thể giúp đỡ người khác.

Hiểu được ý nghĩa lời nhận định của nhà văn Nam Cao, ta thấy nó thật đúng trong thực tế. Ta có thể lấy ngay một dẫn chứng để chứng minh cho điều này .Chắc hẳn ai cũng biết Trụ Vương – một tên hôn quân nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc. Trụ Vương quanh năm chỉ biết ăn chơi hưởng lạc, chèn ép dân chúng,bắt họ phải xây dựng đền, đài , cung điện cho hắn, khiến người dân lâm vào cảnh lầm than, cực khổ. Căm phẫn trước sự tàn bạo của Trụ Vương, hai cha con Cơ Xương và Cơ Phát, cùng người dân đã đứng lên chống lại ông ta. Kết quả là vương triều của Trụ Vương đã bị lật đổ, bản thân Trụ Vương phải tự thiêu chết mình, còn Cơ Phát được mọi người tôn lên làm vua . Trong dẫn chứng trên, ta có thể thấy rằng dường như Trụ Vương có đầy đủ điều kiện để trở thành “ kẻ mạnh”: tiền bạc, quyện lực…Nhưng thực chất, ông ta lại thiếu đi điều quan trọng nhất ,đó chính là : nhân phẩm, là lòng yêu nước thương dân. Và vì thiếu đi điều cốt lõi đó mà Trụ Vương đã phải lãnh một kết cục thê thảm. Còn Cơ Phát , ông là một người tài giỏi , luôn hết lòng yêu thương, giúp đỡ, bảo vệ dân chúng. Và chính vì vậy , ông đã được các chư hầu và người dân ủng hộ , giúp ông có thêm sức mạnh để chiến thắng Trụ Vương.Từ dẫn chứng trên, ta có thể thấy ngay ai là “ kẻ mạnh”, ai là “ kẻ yếu”. Qua đây, ta cũng rút ra được một bài học : Muốn làm ‘kẻ mạnh” không khó. Chỉ cần chúng ta biết giúp đỡ người khác, họ sẽ cho ta sức mạnh để trở thành “kẻ mạnh” thực sự. Và nếu mọi người đều biết giúp đỡ nhau thì xã hội của chúng ta sẽ trở nên tốt đẹp hơn, mọi người đều sẽ trở thành “kẻ mạnh”. Đây chính là điều mà nhà văn Nam Cao muốn mọi người hiểu được và mong mọi người đều thực hiện được.

Lời nhận định của nhà văn Nam Cao không chỉ là một phương châm sống cao đẹp, nâng đỡ con người hướng tới cái thiện trong cuộc sống mà nó còn nói lên trách nhiệm của con người đối với cuộc sống. Sức mạnh của con người không chỉ đo bằng cơ bắp mà phải đo bằng chính tình yêu thương, bằng hành động.

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2011

“Trong thế giới khốc liệt của AIDS không có khái niệm “chúng ta” và “họ”.Trong thế giới đó im lặng đồng nghĩa với cái chết” - Côphi Annan

Lời kêu gọi của Côphi Annan: “Trong thế giới khốc liệt của AIDS không có khái niệm “chúng ta” và “họ”.Trong thế giới đó im lặng đồng nghĩa với cái chết”.

Chúng ta đã được sống trong những giây phút thực sự vui vẻ và hạnh phúc. Cũng không ít người trong chúng ta đã thầm tiếc nuối và ao ước những khoảnh khắc tuyệt vời ấy mãi mãi đọng lại trước mắt chúng ta và mỗi chúng ta sẽ thấy cuộc sống này ý nghĩa biết bao.Thế nhưng, xung quanh ta lại có những người không có niềm tin vào cuộc sống hiện tại, không giám mơ ước cho tương lai và thậm chí không muốn tồn tại trên cõi đời này nữa mà chỉ biết mong ước rằng thời gian hãy trôi thật nhanh, nhanh hơn nữa và mang họ đến một nơi nào đó thật xa xôi, ở đó không có sự hiện hữu của HIV/AIDS, căn bệnh thế kỷ đang mang trên mình. Hiểu được điều đó, Côphi Annan đã kêu gọi : ”Trong thế giới khốc liệt của AIDS không có khái niệm “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới đó im lặng đồng nghĩa với cái chết”. Chúng ta hãy cùng đi vào tìm hiểu lời kêu gọi ấy và từ đó rút ra hành động cho tuổi trẻ hiện nay.


HIV là virus gây suy giảm miễn dịch ở người, có nghĩa là nếu bạn nhiễm phải nó, khả năng chống bệnh tật của bạn sẽ bị suy yếu. AIDS (còn gọi là SIDA) có nghĩa là Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải. HIV/AIDS có mặt khắp nơi trên thế giới. Từ miền xuôi đến miền ngược, thành thị, nông thôn hay miền hải đảo xa xôi, ở đâu cũng có, chúng luôn rình rập và sẵn sàng cướp đi cuộc sống của bất kỳ những ai chủ quan, thiếu hiểu biết. Từng giờ, từng phút, từng giây đồng hồ trôi qua, có biết bao con người đã bị cuốn vào vòng xoáy HIV/AIDS. Theo thống kê, cứ 15phút, trên thế giới có một người bị nhiễm HIV/AIDS. Tất cả những người bị nhiễm HIV/AIDS ngoài phải chống chọi với bệnh tật, sự ăn mòn đi thân xác của họ thì họ lại càng đau khổ hơn nữa khi xung quanh họ luôn có một tấm lưới vô hình nhưng phủ đầy gai nhọn bao vây lấy họ. Tấm lưới này đang dệt nên từ sự kỳ thị, sự phân biệt, sự khinh bỉ hay đơn giản chỉ là một câu nói bâng quơ, một cái nhìn lãnh cảm hoặc một ánh mắt thờ ơ, xa lánh của chính mỗi chúng ta. Chúng ta đã vô tình làm tổn thương vào chính trái tim và tâm hồn của những người nhiễm HIV/AIDS. Câu nói của Côphi Annan phần nào phản ánh được điều đó.


HIV/AIDS là một căn bệnh ai ai cũng có thể mắc phải, không phân biệt bất cứ ai về địa vị, chức quyền, giới tính hay lứa tuổi, có ai trong số các bạn đã nói rằng những người bị nhiễm HIV/AIDS toàn là những người nghiện ma tuý, những cô gái mại dâm hay những con người suy thoái về đạo đức, ngoài ra, có biết bao người dân lương thiện bị kẻ xấu hãm hại, biết bao người phụ nữ lây nhiễm bởi chính người chồng của mình. Đáng tiếc hơn nữa, không ít những cán bộ y tế , chiến sĩ công an nhiệt tình dũng cảm, hết lòng vì công việc mà bị lây nhiễm. Điều làm cho ta thấy đáng buồn nhất đó là vô số những đứa trẻ tội nghiệp đã phải mang trong mình virut HIV ngay cả khi đang nằm trong bụng mẹ. Để rồi ngày mà những đứa trẻ sơ sinh đáng thương đó cất tiếng khóc đầu tiên, được hít thở không khí cuộc sống bằng chính khả năng của mình thì chúng nó đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, phải sống một cuộc sống khác xa với những gì mà những đứa trẻ bình thường khác, thử hỏi những đứa trẻ đáng yêu đó có tội tình gì? Chúng ta hãy cùng suy ngẫm thật kỹ về câu nói của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc Côphi Annan : " Trong thế giới khốc liệt của AIDS không có khái niệm “chúng ta” và “họ”. Trong thế giới đó im lặng đồng nghĩa với cái chết ".


Một người bị nhiễm HIV/AIDS trong những giây phút cuối cùng của đời mình đã để lại bức thư có viết : "...Mọi người không dám tiếp xúc với chúng tôi vì sợ lây, sợ ảnh hưởng. Vợ, chồng, con cái chúng tôi phải chịu đựng cảnh ngộ bị kỳ thị, xa lánh. Có những người trong số chúng tôi bị đẩy ra ngoài đường, ở gầm cầu, xó chợ, không chốn nương thân, không được chăm sóc cả về sức khỏe lẫn tinh thần......". Mặc dù vậy, trước lúc ra đi họ cũng không quên để lại cho tất cả chúng ta một lời nhắn nhủ:" Xin các bạn hãy mở rộng tấm lòng vị tha, nhân ái của con người mà cảm thông, chia sẻ cho họ. Các bạn có biết rằng chính sự kỳ thị của các bạn đã khiến cho những người không may mắn trong số chúng tôi đã không dám công khai tình trạng của mình. Vô tình, chính sự kỳ thị của các bạn đã khiến những người như chúng tôi đây trở thành tác nhân cho những hành vi tiêu cực xảy ra, tiếp tục gieo rắc HIV cho người khác. Biết đâu trong cái vòng luẩn quẩn đó thì HIV lại trở thành bạn đồng hành của các bạn...." .Chúng ta-ai cũng đều sợ HIV/AIDS nhưng không có nghĩa rằng những con người kém may mắn đó là những người đáng sợ, nhiều người đã rất sai lầm khi nghĩ như vậy. Ngoài những con người vô tâm,vô trách nhiệm thì cuộc sống này may mắn vẫn còn có những tấm lòng lương thiện, quan tâm đến những người bị nhiễm HIV/AIDS. Họ giúp bệnh nhân vượt qua nỗi bất hạnh,sự kỳ thị, ánh mắt xa lánh… Dù không thể giúp họ khỏe mạnh trở lại như những người bình thường, nhưng điều quan trọng hơn hết họ đã giúp các bệnh nhân có thêm nghị lực,tiếp thêm sức mạnh để chống chọi lại căn bệnh,kéo dài sự sống. Nếu cuộc sống này, ai cũng có tấm lòng thì ắt hẳn niềm vui, nụ cười sẽ đánh đuổi sự lạnh nhạt, xa lạ ,lạnh lẽo kia.


Chính vì thế nhiệm vụ của mỗi chúng ta bây giờ là gì ? Chúng ta không được im lặng đứng nhìn những người nhiễm HIV ngày càng đến gần cái chết mà thay vào đó hãy đặt mình vào vị trí của người nhiễm bệnh để thấy được họ cần điều gì ở chúng ta. Chúng ta đã nói rất nhiều về trách nhiệm, đã đề ra rất nhiều biện pháp, kế hoạch. Thế nhưng, nhìn lại chúng ta chưa làm được gì cả. Mỗi chúng ta phải ý thức được trách nhiệm của mình từ những cái nhỏ nhặt nhất. Công việc đấu tranh phòng, chống HIV/AIDS không của riêng một ai, một cơ quan tổ chức nào mà đó chính là trách nhiệm của cả cộng đồng, của chính chúng ta bởi vì cuộc sống là của tất cả mọi người. Nếu không có những biện pháp mạnh mẽ và tức thời thì HIV/AIDS có thể làm đảo ngược những thành tựu to lớn mà Việt Nam đã đạt được về tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèoĐối với thế hệ thanh niên, học sinh thì trách nhiệm này lại càng nặng nề và lớn lao hơn. Bởi lẽ đây là những chủ nhân tương lai của đất nước, những con người năng động, sáng tạo, có những điều kiện học tập, rèn luyện tốt nhất. Rất nhiều bạn trẻ đã ao ước tìm ra loại thuốc điều trị căn bệnh HIV/AIDS, để cho điều đó trở thành hiện thực, mỗi chúng ta phải nổ lực phấn đấu hết mình để học tập tốt hơn nữa phải tìm hiểu tự nâng cao nhận thức của mình về căn bệnh HIV/AIDS để có biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn sự lây lan của nó. Đặc biệt, mỗi chúng ta hãy trở thành những tuyên truyền viên xuất sắc, mang những kiến thức cần thiết về HIV/AIDS đến cho tất cả mọi người, tham gia tích cực vào các hoạt động thiết thực như các cuộc thi, các buổi mít tinh cổ động, các phong trào tình nguyện giúp đỡ những người bị nhiễm HIV/AIDS. Và một nhiệm vụ quan trọng nhất là xé tan đi tấm lưới vô hình đang vây lấy những người bị nhiễm HIV/AIDS bằng cách phát huy truyền thống tương thân, tương ái, chăm sóc giúp đỡ và chống kì thị, phân bịêt đối xử với họ, bớt đi một ánh mắt lãnh cảm là giúp cho những người nhiễm HIV/AIDS không còn lo sợ, bớt đi một cái nhìn thờ ơ là tiếp thêm sức mạnh cho họ chống lại bệnh tật, một cái bắt tay thân thiện sẽ cho họ những nụ cười để vững tin hơn vào cuộc sống, chúng ta hãy mở rộng trái tim đồng cảm, hãy cùng nắm tay, sát cánh bên nhau để giúp đỡ những người nhiễm HIV/AIDS.


Lời kêu gọi của Côphi Annan như lời nhắc nhở chung ,gợi mở, khuyên nhủ mọi người hãy là những người tiên phong trong công tác phòng, chống HIV/AIDS. Tôi-Bạn- chúng ta hãy cùng đồng thanh hô tô khẩu hiệu : " Giữ vững cam kết, quyết tâm ngăn chặn AIDS ! " Chính những ước mơ, hoài bão, ý chí, những nụ cười rạng rỡ và con tim tràn đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ chúng ta sẽ đẩy lùi được đại dịch HIV/AIDS.

Thứ Hai, 27 tháng 12, 2010

nghị Luận : Học đi đôi với hành

Trước tiên ta cần hiểu rõ thế nào là "học đi đôi với hành" ? "Học" ở đây là học lý thuyết - những kiến thức ta tiếp thu từ thầy cô mỗi ngày. "Hành" là thực hành, ứng dụng ~ lý thuyết trên vào cuộc sống hằng ngày. Ta dễ dàng nhận ra mối wan hệ mật thiết jữa "học" & "hành" : "học" mà ko "hành" thì lý thuyết sẽ mãi là lý thuyết - ~ lý thuyết suông ko hữu dụng. Ngược lại, "hành" mà ko "học" thì sẽ chẳng mấy khi đem lại hiệu wả - ko khéo còn trở thành ~ kẻ fá họai ngu dốt. Giữa "học" & "hành" là mũi tên 2 chiều mà khi mất đi 1 chiều, cuộc sống, công việc của ta sẽ trở nên khó khăn, fức tạp hơn rất nhiều.

Hiện nay nước ta có tỷ lệ giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ khá cao, không thua kém các nước trong khu vực. Song thực tế cho thấy khả năng và trình độ của không ít người chưa thực sự ngang tầm với học vị mà họ có được. Đấy là do thói wen học vẹt, wa loa như "cưỡi ngựa xem hoa", học chỉ để có = cấp về khoe xóm làng. Học fải đúng cách thì mới có thể kết hợp với "hành" để đạt hiệu wả cao nhất. Học tập trong trường cũng thế. Điểm số là fương tiện giúp ta đánh giá thực lực bản thân, chứ ko fải là thước đo chỉ số IQ, wuyết định sự thông minh của mỗi người. "Thành công là nhờ 9 fần chăm chỉ, 1 fần thông minh" 1 người dù thông minh cách mấy mà ko chịu trau dồi kiến thức thì cũng như ~ kẻ vô học ko có ích. Ko có gì đáng xấu hổ khi giơ tay hỏi bài trong lớp, "muốn biết fải hỏi, muốn giỏi fải học". Thật nực cười cho ~ kẻ giấu dốt, ôm cái ngu về nhà mà cứ tỏ vẻ ta đây thấu hiểu hết. Việc học là mênh mông trời biển, ko fân biệt giai cấp, giàu nghèo, tuổi tác, giới tính. Ai cũng có thể học, từ bất cứ nơi nào : học từ thiên nhiên cách đàn ong xây tổ, học từ thầy cô kiến thức fổ thông...Xấu hổ thay cho ~ kẻ "thùng rỗng kêu to", vỗ ngực tự hào rằng ta đã học hết mọi thứ !

Giỏi lý thuyết ko vẫn chưa đủ. Nếu ko ứng dụng ~ gì đã học vào cuộc sống thì chẳng fải ta đã học 1 cách vô ích ? Ko fải tự nhiên mà 1 chiếc máy bay có thể bay dc. Đó là kết wả của hàng vạn cuộc nghiên cứu, thí nghiệm của hàng nghìn nhà khoa học suốt nhiều thế kỉ, thành công có, thất bại có. Nhưng cốt lõi là họ ko nhục chí, "thất bại là mẹ thành công". Sau khi thất bại, ko nên khóc lóc, than vãn mà nên tự hỏi "tại sao mình thất bại ?" để rút kinh nghiệm cho lần sau. Giữ vững niềm tin, sáng tạo ứng dụng lý thuyết vào thực nghiệm, thành công sẽ mỉm cười ! Tuy nhiên, từ lý thuyết đến thực hành là cả 1 đọan đường dài, ko fải cứ giỏi lý thuyết là làm dc tất cả. Cuộc sống là con đường trải đầy hoa hồng, nhìn thì rất êm nhưng muốn đi dc trên đó, ta fải trả = máu. Đôi khi wa thực hành mà ta kiểm định lại các kiến thức đã học, bằng thực nghiệm mà người ta tìm ra lỗ hỏng của những giả thiết tưởng chừng là đúng. Đối với HS chúng ta, bài tập về nhà là 1 cách kiểm tra lại kiến thức đã học trên lớp. Vì thế, hãy vui vẻ hòan tất bài tập. Đó là cơ sở để xây dựng 1 tương lai tươi sáng cho riêng mình

Thứ Năm, 25 tháng 11, 2010

nghị luận xã hội : Gian Lận Trong Thi Cử

Đặt vấn đề:
- Trung thực là một đức tính cần phải có, quan trọng đối với tất cả mọi người
- Đối với học sinh thì đó là một đức tính càng quan trọng và phải được đặt lên hàng đầu.
- Tuy nhiên, ngày nay một bộ phận học sinh đang mất đi đức tính này trong học tập và thi cử.
- Sự trung thực trong học tập và thi cử của học sinh ngày nay là một vấn đề cần được bàn luận và nhìn nhận một cách nghiêm túc.
Giải quyết vấn đề:
- Trung thực trong học tập và thi cử mới có thể để học sinh nhìn nhận đúng năng lực, phản ánh đúng kết quả học tập của mình và có hướng phấn đấu thích hợp.
- Cùng với xu thế hội nhập và hiện đại hóa, học sinh ngày nay trở nên năng động, tự tin và có kiến thức rộng hơn, có điều kiện học tập tốt hơn.
- Tuy nhiên, mặt trái của nó, một số bộ phận học sinh, do thiếu sự quan tâm đúng mức của gia đình, do sự lôi cuốn của xã hội hiện đại đã trở nên xao lãng việc học tập và để đối phó với kiến thức hạn hẹp của mình ở nhà trường, họ phải gian lận trong học tập và thi cử.
- Gian lận trong học tập và thi cử là một việc làm không thể chấp nhận được, vấn đề sẽ như thế nào nếu một học sinh rời ghế nhà trường với một kiến thức hạn hẹp nhưng một kết quả cũng không đến nỗi tệ?
Kết thúc vấn đề
- Khẳng định lại vấn đề đã bàn luận.
- Xã hội và đặc biệt là ngành giáo dục cần có những biện pháp nghiêm túc hơn trong học tập và thi cử của học sinh, đánh giá đúng, chính xác năng lực của từng học sinh, luôn lấy câu "bác sĩ chữa sai thì chết một người, nhưng thầy cô giáo chữa sai thì chết một thế hệ" de giao duc hoc sinh.

Hoặc em có thể lấy thêm dẫn chứng thêm như sau"
Thi cử vốn là một khâu quan trọng trong giáo dục để đánh giá kiến thức cũng như năng lực của học sinh,tránh những trường hợp không hề hiếm trong xã hội ngày nay :"Ngồi nhầm lớp ","bằng cấp giả",...

Gian lận trong thi cử xảy ra ở không ít bộ phận học sinh ,dù cho đó là những học sinh xuất sắc .Hậu quả đó là do tác động từ đâu mà có?Có thể là do bản tính ,cũng có thể là do những tác động từ bên ngoài -->mục đích là kiếm được điểm số cao,điểm phẩy tốt,...cũng có thể do áp lực nào khác...
Tình trạng học sinh giỏi "ảo " có lẽ cũng xuất phát từ căn bệnh quá cũ của XH:"bệnh thành tích".
"Xã hội ta nói chung lên án, phê phán tỷ lệ tốt nghiệp THPT là không đúng với thực chất trình độ học sinh. Song, mâu thuẫn lại nảy sinh chính ở yếu tố này. Mỗi gia đình đều mong muốn con em họ thi đỗ tốt nghiệp với số điểm cao nhất. Mỗi đơn vị trường học, ngành giáo dục - đào tạo cho đến cấp tỉnh hy vọng thí sinh trường mình, tỉnh mình đỗ tốt nghiệp với tỷ lệ cao nhất. "
-------------------------------------------------
1 sô tài lịu tham khảo :
Trước hết, ta hãy xét đến ở một phòng thi. Về phía thí sinh, việc học sinh đi thi mang theo và sử dụng tài liệu hiện nay trở nên khá phổ biến. Những năm gần đây, nếu ai có dịp đi ngang qua các phòng thi sau các giờ thi, chắc hẳn bắt gặp rất nhiều những mảnh phô tô tài liệu thu nhỏ nằm trắng xóa ở các phòng thi hay các dãy hành lang. Học sinh đi thi mang theo chúng khắp cả người và điều đó đã trở thành một phong trào. Giám thị bắt được bộ này thì lại có một bộ khác. Nhiều học sinh nữ còn táo tợn giấu tài liệu vào trong cơ thể để các thầy giáo coi thi không dám khám xét vì sợ “vi phạm thân thể”. Nhiều học sinh, thậm chí là học sinh giỏi dù đã thuộc bài nhưng cũng thủ sẵn tài liệu bên mình để cho chắc ăn hơn. Vì vậy, mới có những trường hợp những học sinh trung thực lại trở nên khó chịu vì mình bị “thiệt thòi” so với những bạn học sinh có học lực yếu hơn. Bài học trung thực ở trường thi đã mất đi tác dụng.

Về phía giám thị, một tâm lý chung được hình thành “các em đã cất công học tập 12 năm đèn sách, không nỡ làm khó dễ các em làm gì, cuối cùng rồi cũng sẽ đậu hết đó mà”. Thế là nảy sinh tình trạng coi thi dễ dãi, cho qua việc thí sinh mang vào và thậm chí sử dụng tài liệu. Có một số trường hợp, giám thị canh chừng thanh tra để cho thí sinh chép tài liệu, thậm chí còn giải giúp bài thi cho thí sinh./
Nói đi cũng phải nói lại ,về phía các bậc giáo dục con em mình dường như chưa quan tâm đúng mức đến "gian lận" trong thi cử và nhiều khi là "nới tay" bỏ quá cho những hành vi thiếu trung thực khiến tình trạng trên ngày càng diễn ra phổ biến hơn,tinh vi hơn.
"Những giáo viên nghiêm túc thì nhiều khi cũng phải chùn tay trước áp lực xã hội, của địa phương, của ngành hay nể nang cả lãnh đạo Hội đồng; đồng thời giáo viên cũng phải lo đến bảo toàn cuộc sống của mình. Đã có giáo viên có trận đòn nhớ đời vì đã coi thi quá nghiêm túc!

Mà nếu như có nghiêm túc thì giám thị cũng chẳng được gì, nhiều khi bị đồng nghiệp nhìn với một con mắt e ngại, dè bỉu. Vậy thì, giám thị không lý do gì mà không chọn một giải pháp an toàn?!"

Bài đăng Phổ biến