Trang

Tìm kiếm Blog này

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Hệ thống câu hỏi hướng dẫn học sinh đọc hiểu "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu




Câu 1: Dựa vào văn bản (cả phần lược bỏ và phần trích), hãy tóm tắt cốt truyện Chiếc thuyền ngoài xa.

Phóng viên nhiếp ảnh Phùng được trưởng phòng đề nghị đi chụp một cảnh biển buổi sáng có sương mù để bổ sung vào bộ ảnh lịch nghệ thuật về thuyền và biển. Nhân chuyến đi thăm Đẩu, người bạn chiến đấu năm xưa, giờ đang là chánh án huyện, Phùng đi tới một vùng biển miền Trung, từng là chiến trường cũ của anh thời chống Mĩ. Phùng đã “phục kích” mấy buổi sáng mà chưa chụp được bức ảnh nào. Sau gần một tuần lễ suy nghĩ, tìm kiếm, Phùng quyết định thu vào chiếc máy ảnh cảnh thuyền đánh cá thu lưới vào lúc bình minh với “một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”. Nhưng chính từ chiếc thuyền ngoài xa với vẻ đẹp tuyệt đỉnh, toàn bích ấy lại bước xuống một đôi vợ chồng hàng chài, và lão đàn ông hùng hổ dùng “chiếc thắt lưng của lính ngụy” thẳng tay quật tới tấp vào người vợ, trong khi người vợ nhẫn nhục chịu đựng, “không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách trốn chạy”. Phùng chưa kịp xông ra can ngăn thì thằng bé Phác, con lão, đã kịp chạy tới giằng chiếc thắt lưng quật vào người bố để che chở người mẹ. Biết Phùng chứng kiến tình cảnh của gia đình nó, thằng bé Phác đâm ra căm ghét anh. Ba hôm sau, cũng trong làn sương sớm, Phùng lại chứng kiến cảnh lão đàn ông đánh vợ, cảnh cô chị gái rượt đuổi thằng em trai để tước con dao găm thằng bé giấu trong cạp quần, định dùng làm vũ khí để bảo vệ mẹ. Không thể nén chịu hơn được nữa, Phùng xông ra đánh nhau với lão đàn ông và bị thương nhẹ. Anh nán lại ở vùng biển mấy ngày theo lời mời của Đẩu. Người đàn bà, lần thứ hai, được Đẩu mời đến tòa án huyện. Ở đây, Phùng và Đẩu đã nghe câu chuyện của người đàn bà hàng chài với bao sự cảm thông, ngỡ ngàng, ngạc nhiên và vỡ lẽ ra nhiều điều. Những tấm ảnh Phùng mang về, trưởng phòng “rất bằng lòng” và chọn lấy một tấm đưa vào bộ lịch năm ấy và sau này “vẫn còn được treo ở nhiều nơi”. Tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, Phùng “vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai”, và bao giờ anh “cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh”, “hòa lẫn trong đám đông...”.

Câu 2: Chiếc thuyền ngoài xa được tổ chức xung quanh một tình huống truyện như thế nào? Anh/chị có nhận xét gì về cách tạo tình huống truyện của Nguyễn Minh Châu trong tác phẩm này? Cách tạo tình huống truyện như vậy có tác dụng gì đối với nội dung, ý nghĩa của tác phẩm?

Về tình huống truyện trong Chiếc thuyền ngoài xa, có người cho là tình huống nhận thức, người khác coi là tình huống nghịch lí, lại có người cho rằng nó gồm cả hai nhưng không đồng đẳng. Quả thực, qua câu chuyện gia đình hàng chài ta thấy nổi lên một tình thế nghịch lí: chồng đánh vợ, con đánh bố; người vợ tốt mà luôn bị chồng đánh đập tàn bạo; bị chồng hành hạ đau đớn mà vẫn nín thinh, thậm chí xin được đưa lên bờ mà đánh; nhìn con đánh bố để che chở cho mình thì lại van xin khóc lóc... Một cuộc sống như thế còn gì nghịch lí hơn? Nhưng sự kiện bao trùm lên cả thiên truyện, đó không phải là cuộc sống đầy nghịch lí của gia đình hàng chài mà là chuyến đi thực tế tới làng chài của nghệ sĩ Phùng để chụp một bức ảnh theo đề nghị của trưởng phòng. Trong chuyến đi này, Phùng đã phát hiện ra những nghịch lí, làm phá vỡ hoàn toàn sự nhận thức lâu nay của mình về thực trạng cuộc sống và về sự trái ngược giữa thực trạng cuộc sống với ý đồ nghệ thuật của trưởng phòng. Trong vai người kể chuyện, Phùng không chỉ muốn kể về nghịch cảnh của một gia đình hàng chài, mà muốn trình bày những “vỡ lẽ” trong hành trình nhận thức quanh co mà cả người nghệ sĩ lẫn vị thẩm phán trải qua. Bởi vậy, tình huống bao trùm thiên truyện là một tình huống nhận thức, còn cái tình huống nghịch lí của gia đình hàng chài chỉ là một tình huống nhỏ được lồng trong đó.

Tạo được một tình huống truyện vừa đan lồng (tình huống nhỏ lồng vào tình huống lớn) vừa đồng tâm (cả người nghệ sĩ nhiếp ảnh lẫn vị thẩm phán đều trải qua một hành trình nhận thức quanh co để “vỡ ra” chân lí), mang ý nghĩa khám phá, phát hiện về đời sống, đó là nét độc đáo trong cách tổ chức tình huống truyện trong Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu. Cách tạo tình huống truyện như vậy vừa có tác dụng hấp dẫn, lôi cuốn người đọc vừa làm nổi bật được chủ đề tư tưởng của tác phẩm.

Câu 3: Anh/chị hãy phân tích quá trình nhận thức của hai nhân vật Phùng và Đẩu. Qua hai nhân vật này nhà văn muốn nói lên điều gì?

Phùng là một nghệ sĩ nhiếp ảnh, theo yêu cầu của trưởng phòng, anh đã đến một vùng biển miền Trung, nơi phong cảnh “thật là thơ mộng”, để chụp bổ sung vào bộ ảnh lịch một bức ảnh với cảnh biển buổi sáng có sương mù. Và anh đã phát hiện thấy “một cảnh “đắt” trời cho”, cảnh “chiếc thuyền ngoài xa” với đường nét, màu sắc “đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích”, anh “tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện”, thấy tâm hồn mình như được gột rửa, trở nên trong ngần, ngập tràn hạnh phúc trước “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại”, khiến anh chiêm nghiệm “bản thân cái đẹp chính là đạo đức”. Nhưng ngay sau đấy, anh bất ngờ chứng kiến đến hai lần cái cảnh bạo hành tồi tệ, dã man, nhức nhối của chính cái gia đình sống trên chiếc thuyền “thơ mộng” đó. Trước nghịch cảnh ấy, điều gì đang “vỡ ra” trong nhận thức của nghệ sĩ Phùng? Phải chăng đó là cái vẻ đẹp bên ngoài của hiện tượng thường che lấp cái sự thực bên trong? Bởi vậy, người nghệ sĩ sẽ không bao giờ hiểu thấu được sự thực ở đời nếu chỉ nhìn cuộc sống từ ngoài, từ xa. Và, nghệ thuật chỉ “chụp ảnh” cái bề ngoài là một thứ nghệ thuật giả dối, phi đạo đức. Không chỉ có vậy. Chứng kiến câu chuyện người đàn bà hàng chài kể lể ở tòa án, Phùng còn vỡ lẽ thêm nhiều điều khác. Thì ra, ở người đàn bà hàng chài, đằng sau sự nhẫn nhục chịu đựng xúc phạm, hành hạ, là đức hi sinh lớn lao của tình mẫu tử; đằng sau vẻ ù lì thất học, lại là một người "thâm trầm trong việc hiểu thấu các lẽ đời"… Và, khuất sau hành vi côn đồ, vô đạo của thằng con đánh bố, là tình thương sâu nặng dành cho người mẹ. Chưa hết, điều vỡ lẽ bất ngờ, sâu sắc hơn ở Phùng là những nhận thức về cái lão hàng chài "độc ác và tàn nhẫn nhất thế gian". Ban đầu, với nhận thức giản đơn Phùng đinh ninh cái xấu cái ác ở lão có nguồn gốc từ phía địch, hoặc từ rượu chè hay từ bản tính của lão. Hóa ra không phải. Lão không đi lính ngụy mà trốn lính. Rượu chè cũng không. Bản tính lão vốn “cục tính nhưng hiền lành, không bao giờ đánh đập vợ". Và bây giờ, mỗi khi đánh vợ, lão cũng "rên rỉ đau đớn". Không phải từ bản tính, từ rượu chè, từ phía địch. Vậy thì từ đâu? Hóa ra, cái ác cái xấu ở lão là do lão bị cầm tù trong cuộc sống quẩn quanh, đói khổ, trong tập quán lạc hậu, khiến bị thui chột ý thức về nhân phẩm, về giá trị người, giá trị sống, cho nên lão chà đạp lên nhân phẩm, giá trị người mà vẫn không hay biết. Hóa ra, lão đàn ông vừa là tội phạm, lại vừa là nạn nhân. Đối mặt với những sự thực ấy, điều gì đang “vỡ ra” trong đầu nghệ sĩ Phùng? Phải chăng người nghệ sĩ nếu chỉ nhìn nhận giản đơn, sơ lược thì không thể phát hiện được cái khuất lấp, cái bề sâu của cuộc đời và con người. Bởi vậy, người nghệ sĩ phải biết dấn thân vào cuộc đời, phải có cái nhìn bề sâu, đa diện, nhiều chiều mới có thể phát hiện ra sự thật và cái đẹp thường bị che lấp bởi cái vẻ đẹp bên ngoài, cái xấu bề nổi của cuộc sống và con người.

Đẩu là một vị chánh án huyện, vốn trước đây là một người lính, nên với lối nghĩ thời chiến, anh tin luật pháp công bằng và thiện chí của mình sẽ giúp thay đổi số phận người đàn bà hàng chài. Anh đã giáo dục, răn đe chồng bà ta nhiều lần nhưng không mấy kết quả. Thấy "ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng", anh nghĩ bà ta “không sống nổi với cái lão đàn ông vũ phu ấy” nên đành gợi ý bà ta bỏ chồng để khỏi bị hành hạ. Nhưng bà ta vẫn khăng khăng gắn bó, lạy lục van xin đừng bắt bỏ chồng. Đẩu đã phải thốt lên "không thể nào hiểu được!". Đến khi thấu hết lời người đàn bà hàng chài, trong đầu vị chánh án cấp huyện ấy có “một cái gì vừa mới vỡ ra”. Cái điều “vỡ ra” ấy, phải chăng là anh đã có thể hiểu được những nghịch lí của đời sống mà con người phải chấp nhận? Phải chăng trong cuộc sống, bao việc tưởng vô lí nhưng xem ra lại có lí riêng; nhiều chuyện ngỡ đơn giản, kì thực, hết sức phức tạp? Không thể đem thiện chí và ý chí đơn thuần giải quyết mà xong được.

Câu 4: Phân tích tính cách người đàn bà hàng chài (chú ý những lời giải bày của người đàn bà ở tòa án huyện); qua đó phát biểu cảm nghĩ của anh/chị về nhân vật này.

Trong tác phẩm, tác giả chỉ gọi là “người đàn bà” một cách phiếm định, không có tên tuổi cụ thể, nhưng số phận nhân vật này lại được tác giả tập trung thể hiện với thái độ đáng cảm thông, chia sẻ nhất. Trạc ngoài bốn mươi, thô kệch, rỗ mặt, lúc nào cũng xuất hiện với “khuôn mặt mệt mỏi”, người đàn bà hàng chài gợi ấn tượng về một cuộc đời cực nhọc, lam lũ. “Nhưng tình thương con cũng như nỗi đau, cũng như cái sự thâm trầm trong việc hiểu thấu các lẽ đời hình như mụ chẳng bao giờ để lộ rõ rệt ra bề ngoài”. Với chồng, một lão đàn ông vũ phu thường xuyên đánh đập, hành hạ dã man “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng”, bà vẫn thầm lặng chịu đựng mọi đớn đau, “không hề kêu một tiếng, không chống trả, cũng không tìm cách chạy trốn”. Nhưng sự cam chịu, nhẫn nhục của bà không phải mù quáng mà thương xót và thấu hiểu hơn ai hết, vì bà cũng như bao người đàn bà vùng biển khác “cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng một sắp con”. Với con, bà là một người mẹ thương yêu vô bờ, tận tâm, che chở cho con, biết chịu đựng, hi sinh để “sống cho con chứ không thể sống cho mình”, bà lo sợ con làm điều dại dột, cố tránh cho con khỏi bị tổn thương. Trước vị chánh án huyện, bà tự tin, sắc sảo, thông cảm và bộc bạch thành thực những suy nghĩ của mình. Qua những lời giải bày thật tình của bà ở tòa án huyện, ta càng thấy rõ mọi sự chịu đựng, hi sinh, gánh lấy khổ đau của bà chỉ vì để sống cho con, nuôi con khôn lớn. Một sự cam chịu, nhẫn nhục như thế thật đáng để chia sẻ, cảm thông. Bà là một tính cách người mẹ khó nhọc, lam lũ, cam chịu mà nhân hậu, giàu lòng vị tha, đức hi sinh. Người mẹ hàng chài ấy chẳng phải là bóng dáng của biết bao người phụ nữ, bà mẹ Việt Nam đó sao?

Câu 5: Anh/chị thử tìm những nguyên nhân dẫn đến tình trạng bạo lực trong gia đình hàng chài. Chi tiết lão đàn ông rút “chiếc thắt lưng của lính ngụy ngày xưa”, “quật tới tấp vào lưng người đàn bà”, ngay ở bên “chiếc xe rà phá mìn của công binh Mĩ” có phải là một sự gợi ý về nguyên nhân của tình trạng này không? Anh/chị có nhận xét gì về tư tưởng nhân đạo của tác giả khi đề cập tình trạng bạo lực trong gia đình?

Trong tác phẩm, cảnh lão đàn ông hành hạ, đánh đập vợ tàn bạo bằng “chiếc thắt lưng của lính ngụy” thường diễn ra bên những chiếc xe tăng và xe rà phá mìn sét gỉ trên bãi biển – là những thứ tàn tích sau chiến tranh – là một sắp đặt đầy dụng ý của tác giả. Tuy nhiên, tái hiện những hình ảnh này, Nguyễn Minh Châu không hề giản đơn để ám chỉ về cái xấu và cái ác kia như một thứ tàn tích của chiến tranh. Phải chăng trong những hình ảnh ấy còn hàm chứa một ẩn ý bề sâu? Đó là bạo lực chiến tranh do kẻ địch gây ra đã bị tiêu diệt còn chưa lùi xa, thì đã sinh ra thứ bạo lực khác, dai dẳng và đáng sợ hơn nhiều. Là vì thứ bạo lực này chà đạp lên phẩm giá người, hủy hoại nhân tính, làm tha hóa cuộc sống con người, nhưng nó lại khó nhận ra, khó tiêu diệt hơn. Nhưng thứ bạo lực đáng sợ này sinh ra từ đâu? Qua tính cách lão đàn ông hàng chài, người đọc có thể thấy nó nằm sẵn trong lão, nó sinh ra từ tình trạng đời sống đói khổ, tăm tối, từ sự lạc hậu, mông muội, khiến lão bị thui chột ý thức về nhân tính, về tư cách người, giá trị người, vì thế lão chà đạp lên nhân phẩm, giá trị người mà vẫn không nhận ra.

Đề cập tình trạng bạo lực trong gia đình hàng chài – chồng đánh vợ, con đánh bố, Nguyễn Minh Châu đã làm dấy lên nỗi xót thương và niềm lo âu về tình trạng phụ nữ và trẻ em bị hành hạ, ngược đãi, về nguy cơ trẻ em sẽ sớm nhiễm thói vũ phu thô bạo, tồi tệ do bị tổn thương tâm hồn, đánh mất niềm tin vào gia đạo, cuộc sống. Tác giả không chỉ lên án bạo lực, phê phán sự lạc hậu, mông muội, không chỉ bày tỏ tình thương yêu đối với những con người nhỏ bé, bất hạnh, lam lũ, khổ đau mà còn cảnh báo một nguy cơ đáng sợ: nếu không giải phóng con người khỏi đói nghèo, tăm tối, lạc hậu thì không thể tiêu diệt được cái xấu cái ác. Chính nhà văn đã chỉ ra điều này trong lời kể đầy ẩn ý: “… cái lão đàn ông đã từng hành hạ mụ, và không khéo sẽ còn hành hạ mụ cho đến khi chết – nếu không có cách mạng về”. Đó là chiều sâu tư tưởng nhân đạo của thiên truyện.

Câu 6: Tên truyện là Chiếc thuyền ngoài xa. Gần cuối truyện, hình ảnh chiếc thuyền ấy lại hiện lên trước một cơn giông tố lớn đang ập đến. Anh/chị có nhận xét gì về dụng ý nghệ thuật và ý nghĩa thể hiện qua chi tiết này?

Tên truyện Chiếc thuyền ngoài xa rõ ràng hàm chứa một ẩn ý của nhà văn. Qua nội dung câu chuyện, hình ảnh chiếc thuyền ngoài xa nơi nhan đề gắn với cái đẹp “tuyệt đỉnh của ngoại cảnh”, cái đẹp “toàn bích, toàn thiện”, nhưng cuộc sống đích thực của gia đình hàng chài trên con thuyền ấy biết bao khó nhọc, lam lũ, khổ đau, bất hạnh, bạo hành tồi tệ. Thì ra hình ảnh chiếc thuyền nhìn từ xa rất khác với nhìn gần; nhìn từ xa thì thấy thơ mộng, tuyệt đỉnh; nhìn gần thì thấy sự thực tàn bạo, tồi tệ, nhức nhối. Đó là nghịch lí giữa cái đẹp bên ngoài và sự thực xấu xa, tồi tệ bên trong mà một cái nhìn giản đơn, sơ lược không thể phát hiện khám phá ra được. Nhan đề truyện là một khái quát giản dị về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống và là một ẩn dụ tượng trưng cho cái nhìn nghệ thuật về cuộc đời và con người.

Gần cuối truyện, vẫn là hình ảnh chiếc thuyền ấy, nhưng trước một cơn giông tố lớn đang ập đến. Hàm ý tượng trưng ẩn ở tầng sâu hơn. Đó không giản đơn là một cảnh báo với niềm lo âu về một nguy cơ cuộc sống trước cơn bão bạo lực mà là một dự cảm với chiều sâu nhân đạo về cơn bão cách mạng để tiêu diệt cái ác, để đổi thay cuộc sống, giải phóng con người khỏi đói nghèo, tăm tối để con người được sống xứng đáng là con người.

Câu 7: Phân tích đoạn văn cuối truyện (“Không những trong bộ lịch năm ấy …, hòa lẫn trong đám đông…”); qua đó phát biểu nhận xét về quan điểm nghệ thuật và tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Minh Châu.

Đoạn văn cuối truyện là một ấn tượng lạ lùng của nhân vật Phùng. Là một nghệ sĩ say mê, nhạy cảm trước cái đẹp “toàn thiện, toàn bích”, anh đã thực sự xúc động, ngỡ ngàng, cảm thấy “hạnh phúc tràn ngập tâm hồn” trong cái khoảnh khắc phát hiện “cái đẹp tuyệt đỉnh” của chiếc thuyền ngoài xa hòa vào “bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào”. Và anh đã chủ tâm chụp lấy bức ảnh “không có người. Hoàn toàn là thế giới tĩnh vật” như trưởng phòng mong muốn. Nhưng anh không ngờ chính trên chiếc thuyền ấy là một gia đình hàng chài đang sống trong tình trạng bạo hành, dã man, tồi tệ. Trước sự đối lập, nghịch lí giữa “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh” với cuộc sống lầm than, cay cực của gia đình hàng chài, anh đã day dứt, trăn trở, trải qua một cuộc đối chất riết ráo giữa thứ nghệ thuật “hoàn toàn tĩnh vật” mà vị trưởng phòng mong muốn với nghệ thuật vì sự thực ở đời, vì những kiếp lầm than. Điều này đã luôn ám ảnh anh, đến nỗi sau này, mỗi lần nhìn ngắm bức ảnh chụp cảnh biển buổi sáng có sương, “tuy là ảnh đen trắng” nhưng anh “vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai”, và “bao giờ cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh”. Cái ám ảnh, cái ấn tượng lạ lùng này của Phùng cho thấy trong sâu thẳm nhận thức, tư tưởng của anh, anh đã li khai với thứ nghệ thuật “màu hồng” xa lạ với sự thật về đời sống và con người; lòng người nghệ sĩ này đã thấu hiểu nghệ thuật chân chính luôn là sự thực ở đời, là vì cuộc đời, vì những kiếp lầm than; nó không thể nhân danh bất cứ điều gì để lảng tránh sự thật về con người, mà phải có trách nhiệm can dự vào cuộc đời, phải góp tiếng nói tích cực vào việc giải phóng con người khỏi sự cầm tù của nghèo đói, tăm tối và bạo lực để con người có một cuộc sống xứng đáng với con người. Đó cũng chính là tuyên ngôn nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu qua truyện ngắn này mà nhan đề Chiếc thuyền ngoài xa là một ẩn ý về tuyên ngôn đó. - Tuy nhiên, ý nghĩa của đoạn kết truyện không chỉ dừng lại ở đấy. Câu văn “và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra khỏi tấm ảnh, […] Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông…” chứa đựng chiều sâu ý nghĩa nhân đạo của tác phẩm. Phải chăng tình trạng khốn khổ, cay cực của người đàn bà hàng chài kia không hề là cá biệt, mà trong đám đông kia, ai cũng là một người như thế. Câu văn canh cánh một niềm lo âu ấy không chỉ thể hiện tình thương yêu đối với những kiếp lầm than, cay cực mà còn là tiếng kêu giải phóng con người khỏi đói nghèo, tăm tối, lạc hậu, để có thể xóa bỏ được cái xấu cái ác, làm cho con người được sống xứng đáng với con người. Muốn vậy, không còn giải pháp nào khác ngoài con đường cách mạng. Ấy là một cuộc cách mạng diệt trừ cái xấu cái ác, xóa bỏ các thứ bạo lực để con người ngày càng hoàn thiện, đất nước ngày càng đẹp tươi. Cuộc cách mạng ấy đã và đang về, chứ không còn là dự cảm, là kì vọng đau đáu của một nhà văn suốt đời không ngừng trăn trở về số phận nhân dân và trách nhiệm của người cầm bút – Nguyễn Minh Châu.

Câu 8: Anh/chị có nhận xét gì về ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật và giọng điệu trần thuật trong Chiếc thuyền ngoài xa?

Ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa cũng rất đáng chú ý. Trong truyện, người kể chuyện là nhân vật Phùng - thực ra là sự hóa thân của tác giả. Cách chọn người kể chuyện như vậy tạo ra được một điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường khả năng phát hiện khám phá đời sống được nhận thức, làm cho lời kể trở nên khách quan, chân thật, giàu sức thuyết phục. Ngôn ngữ nhân vật phù hợp với đặc điểm tính cách của từng người: giọng điệu, lời lẽ lão đàn ông vũ phu đầy vẻ tục tằn, thô bỉ, tàn nhẫn, hung bạo; lời lẽ của người đàn bà thật dịu dàng và xót xa khi nói với con, thật đớn đau và thấu trải lẽ đời khi nói về thân phận của mình; lời lẽ của Đẩu ở tòa án huyện rõ là giọng của một người tốt bụng, nhiệt thành,... Lối sử dụng ngôn ngữ người kể chuyện, ngôn ngữ nhân vật rất phù hợp, linh hoạt, sáng tạo như thế đã góp phần bộc lộ sâu sắc chủ đề tư tưởng của thiên truyện.

Nét đặc sắc trong ngôn ngữ kể chuyện của truyện Chiếc thuyền ngoài xa là giọng điệu trần thuật – phần hồn của lời kể. Nó bộc lộ thái độ cảm xúc của chủ thể, là một hiện thân của tư tưởng tác giả. Trong truyện ngắn này, nhân vật trưởng phòng là đối tượng bị phê phán. Nhưng thái độ phê phán ở đây không bộc lộ qua giọng điệu, lời lẽ gay gắt, trực diện – như thế thì bất lợi và thất cách – mà giấu thật kĩ, thật sâu đằng sau cái giọng khách quan, bình thản, có khi là giọng tán dương, hàm ơn, hay chỉ là giọng phàn nàn vô hại, qua những lời lẽ có vẻ đề cao vị trưởng phòng, nào là "sâu sắc", "lắm sáng kiến", nào là "quả quyết", "cặp mắt đầy tinh khôn,… Ngay cả khi nói đến cái chủ trương làm bộ lịch ảnh về thuyền và biển, "không có người. Hoàn toàn thế giới tĩnh vật" rất đáng phê phán của vị trưởng phòng thì tác giả cũng chỉ kể lại một cách khách quan bình thản. Vì thế mà thoáng đọc, người đọc khó nhận ra thái độ phê phán ẩn sâu trong những đánh giá có vẻ ưu ái ấy. Thế nhưng, khi người đọc phát hiện ra sự đối lập gay gắt giữa thứ nghệ thuật mà vị trưởng phòng muốn với cái thực trạng tồi tệ của hiện thực đời sống thì cái ý vị mỉa mai, chua xót, sâu cay trong giọng điệu trần thuật của người kể chuyện mới bật lên sau những lời lẽ có vẻ tán dương, đề cao kia. Cũng như vậy, người đọc có thể nhận ra thái độ mỉa mai, chua xót, cay đắng của tác giả đằng sau những lời mô tả đầy hoa mĩ, thơ mộng, lãng mạn, ngây ngất của Phùng trước cái đẹp được coi là “tuyệt đỉnh của ngoại cảnh” ở phần đầu truyện, khi người đọc chứng kiến cái thực trạng dã man, tồi tệ, phi đạo đức được bày ra ở phần sau truyện, cùng với những đau xót sâu sắc và chân thực của Phùng… Nén thái độ vào giọng, giấu giọng vào mạch, dùng tình huống để đảo lộn giọng trong lời kể, đó là một tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nguyễn Minh Châu qua thiên truyện.

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

TÓM TẮT TÁC PHẨM VĂN XUÔI LỚP 12


Tóm tắt truyện Vợ chồng A Phủ – Tô Hoài ( in trong tập Truyện Tây Bắc, 1953) :

          Vợ chồng A phủ kể về đôi vợ chồng người H’ Mông ở vùng Tây Bắc. Mỵ là một cô gái xinh đẹp có tài thổi sáo. Trai bản nhiều người mê và Mỵ đã có người yêu . Dù cha Mị nợ thống lí Pá Tra một món tiền lớn, chưa trả nổi, hằng năm phải trả lãi cả một nương ngô nhưng Mị kiên quyết không lấy A Sử -con trai thống lý Pá Tra- để xoá nợ. Nhưng một đêm xuân, Mị bị A Sử lừa, bắt về trình ma nhà nó. Tiếng gọi là làm vợ A Sử nhưng  Mị bị đối xử  thậm tệ.
Ban đầu, Mị định tự tử nhưng vì thương cha đành cam chịu sống trong đau khổ, câm lặng “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”.
*
Ngày Tết lại về, Mị lén uống rượu một mình. Không khí vui nhộn, nhất là tiếng sáo gọi bạn tình đã giúp Mị nhớ lại những ngày trước, khơi dậy ở Mị khát vọng tình yêu hạnh phúc. Mị vào buồng, định thay váy áo đi chơi thì bị A Sử bắt trói đứng vào cột nhà, bằng cả thúng dây đay, cả tóc Mị. Trong cơn chập chờn mê tỉnh, Mị vẫn thả hồn theo các cuộc chơi. Đến lúc thích chí vùng bước đi mới biết toàn thân bị trói chặt, đau buốt.
Cũng đêm đó, A Phủ, một thanh niên mồ côi nhưng khoẻ mạnh, can trường, đã đánh A Sử, vì bất bình trước trò xấc xược của hắn ta. A Phủ bị làng bắt về xử tội và trở thành người ở trong nhà Pá Tra để trừ nợ.
*
Một mùa đông giá rét, rừng đói, hổ báo từng đàn ra phá nương, bắt bò ngựa . A Phủ vì mải mê bẫy nhím nên đã để hổ bắt mất một con bò. A Phủ bị thống lí Pá Tra bắt trói đứng vào một cây cột, suốt mấy ngày đêm- chờ khi nào A Sử bắn được hổ mới tha.
Lúc ấy, tuy Mị đã trở thành một con người đờ đẫn, vô cảm nhưng khi nhìn thấy hai dòng nước mắt của A Phủ lặng lẽ rơi trên hai hóm má xám đen vì kiệt sức, tuyệt vọng, Mị động lòng thương người cùng cảnh ngộ. Sau một hồi suy nghĩ, Mỵ đã cắt dây trói cho A Phủ. Rồi, Mị vụt chạy theo anh ta.
*
Cả hai băng rừng sang Phiềng Sa, trở thành vợ chồng. Quân Pháp tràn tới, dân làng hoang mang lo sợ. A Châu, cán bộ Đảng đã tìm đến xây dựng phong trào và kết nghĩa anh em với A Phủ. A Phủ đã trở thành tiểu đội trưởng du kích, cùng với Mị và đồng đội tích cực tham gia chống Pháp và tay sai bảo vệ quê hương .


Tóm tắt VỢ NHẶT (1955) – Kim Lân  (in trong tập Con có xấu xí, 1962)

          Giữa lúc xóm ngụ cư xơ xác, tiêu điều trong nạn đói đầu năm 1945, vào một buổi chiều tà, Tràng- một người nông dân nghèo, luống tuổi, thô kệch, lại dở hơi- dẫn một người phụ nữ về nhà.
Vì đang lâm cảnh ngộ đói rách cùng đường nên chỉ qua vài lần gặp gỡ với một vài câu nói đùa, rồi cắm đầu ăn một chặp hết bốn bát bánh đúc do Tràng “chiêu đãi”, người phụ nữ này ưng thuận theo không anh về nhà
Mẹ Tràng (bà cụ Tứ) đón nhận người con dâu trong tâm trạng vừa buồn vừa mừng, vừa lo âu, vừa hi vọng nhưng không hề tỏ ra rẻ rúng người phụ nữ đã theo không con mình.
Đêm tân hôn của họ diễn ra trong không khí chết chóc, tủi sầu từ xóm ngụ cư vọng tới

Sáng hôm sau, một buổi sáng mùa hạ, nắng chói lói. Bà cụ Tứ và cô dâu mới xăm xắn dọn dẹp, quét tước trong ngoài. Trước cảnh ấy, Tràng cảm thấy mình gắn bó và có trách nhiệm với cái nhà của mình và thấy mình nên người, trông người vợ đúng là một người phụ nữ hiền hậu đúng mực, không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như lần đầu gặp nhau. Bà cụ Tứ hồ hởi đãi hai con vài bát cháo loãng  và một nồi chè cám.
Qua lời kể của người vợ, Tràng dần dần hiểu được Việt Minh và trong óc Tràng hiện lên hình ảnh đám người đói kéo nhau đi phá kho thóc Nhật, phía trước là một lá cờ đỏ bay phất phới.


Tóm tắt  RỪNG XÀ NU ( 1965)- Nguyễn Trung Thành

          Truyện kể về một làng ở Tây Nguyên- làng Xô Man- nằm giữa cánh rừng xà nu bạt ngàn, đang từng ngày hứng chịu những trận những trận đại bác của đồn giặc.
Chuyện chính thức bắt đầu bằng việc Tnú trở về thăm làng sau ba năm tham gia lực lượng Giải phóng quân. Thằng bé Heng dẫn đường cho Tnú vì đường vào làng nay đã bố phòng nghiêm ngặt: hầm chông, hố chông, dàn thò chằng chịt….
Đêm đó, Tnú ăn cơm và ở lại nhà cụ Mết. Cả làng tụ họp, Dít kiểm tra giấy phép xong, cụ Mết tự hào kể lại cho mọi người nghe trang sử đấu tranh đồng khởi của làng, gắn bó sâu sắc với cuộc đời Tnú.
*
Hồi ấy, Mỹ- Diệm khủng bố dữ dội, nhưng làng vẫn bí mật nuôi giấu cán bộ (anh Quyết). Tuy còn nhỏ tuổi, Tnú và Mai được giao làm liên lạc cho anh Quyết, rồi được anh Quyết dạy chữ. 
Một lần, trong chuyến đưa thư của anh Quyết lên huyện,  Tnú bị địch phục bắt, bị tra tấn nhưng anh nhất quyết không khai báo. Ở tù ba năm, Tnú vượt ngục  trở về làng thay anh Quyết lãnh đạo buôn làng tích cực chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa và kết hôn cùng Mai.

Tin làng  Xô Man chuẩn bị vũ khí chờ thời cơ nổi dậy đến tai giặc. Thằng Dục đưa lính đến lùng sục vây ráp. Cụ Mết, Tnú, cùng thanh niên lánh vào rừng. Không bắt được Tnú, bọn giặc bắt Mai  với đứa con nhỏ chưa đầy tháng của hai người đánh đập dã man.
 Từ vị trí ẩn nấp,  Tnú chứng kiến cảnh vợ con bị giặc hành hạ, Tnú nhảy xổ vào cứu vợ con, rồi bị chúng bắt, Mai và đứa con chết. Bọn giặc tẩm nhựa Xà nu đốt mười đầu ngón tay anh để khủng bố tinh thần dân làng.
Tnú kiên cường chịu đựng quyết không kêu la. Có tiếng động chung quanh, Tnú thét lên một tiếng, dân làng đồng thanh, nhất tề nổi dậy, thằng Dục và tiểu đội ác ôn đã bị cụ Mết và thanh niên diệt gọn. Làng Xô Man đồng khởi thắng lợi. Tnú gia nhập Giải phóng quân. Anh dũng cảm lập chiến công, được cấp chỉ huy cho về phép thăm làng một đêm.

Sáng hôm sau, Cụ Mết, Dít tiến anh lên đường . Họ chia tay nhau ở đồi xà nu, cạnh con nước lớn.


Tóm tắt truyện Những đứa con trong gia đình – Nguyễn Thi (2/1966)
                         
          Chuyện kể về hai chị em Chiến – Việt, những đứa con trong một gia đình có nhiều mất mát, đau thương: cha bị Pháp chặt đầu hồi chín năm, mẹ vừa bị đại bác Mĩ bắn chết. Khi hai chị em Chiến – Việt trưởng thành, cả hai đều giành nhau tòng quân. Nhờ sự đồng tình của chú Năm, cả hai đều được nhập ngũ và ra trận.
Trong trận đánh ác liệt tại một khu rừng cao su, Việt diệt được một xe bọc thép đầy Mĩ và sáu tên Mĩ lẻ nhưng anh cũng bị thương nặng, lạc đồng đội, một mình nằm lại chiến trường khi còn ngổn ngang dấu vết của đạn bom và chết chóc. Việt ngất đi, tỉnh lại nhiều lần. Mỗi lần tỉnh lại, Việt hồi tưởng về gia đình, về những người thân yêu như mẹ, Chú Năm, chị Chiến… .

Đoạn trích thể hiện lần tỉnh dậy thứ tư của Việt trong đêm thứ hai. Tuy mắt không nhìn thấy gì, tay chân đau buốt, tê cứng nhưng Việt vẫn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu và cố gắng từng tí một lê về phía có tiếng súng của quân ta vì phía đó “là sự sống”.
Việt hồi tưởng lại những sự việc xảy ra từ sau ngày má mất. Cả hai chị em đều háo hức tòng quân, nhưng Chị Chiến nhất định giành đi trước vì cho rằng Việt chưa đủ 18 tuổi. Đến đêm mít tin, Việt nhanh nhảu ghi tên mình trước. Chị Chiến chậm chân và “bật mí” chuyện Việt chưa đầy 18 tuổi. Nhờ chú Năm đứng ra xin giúp, Việt mới được tòng quân. Đêm hôm ấy, chị Chiến bàn bạc với Việt về mọi việc trong nhà. Việt răm rắp chấp nhận mọi sự sắp đặt của chị Chiến, vì Việt thấy chị Chiến nói giống má quá chừng.
Sáng hôm sau, hai chị em khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm. Việt cảm thấy lòng mình “thương chị lạ”.
Sau ba ngày đêm, đơn vị đã tìm thấy Việt. Anh được đưa về điều trị tại một bệnh viện dã chiến; sức khoẻ hồi phục dần. Anh Tánh giục Việt viết thư cho chị kể lại chiến công của mình. Việt rất nhớ chị, muốn viết thư nhưng không biết viết như thế nào vì Việt cảm thấy chiến công của mình chưa thấm gì so với thành tích của đơn vị và mong ước của má.


TÓM TẮT CỐT TRUYỆN CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA (1983, NGUYỄN MINH CHÂU)

Theo yêu cầu của trưởng phòng, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng đến một vùng ven biển miền Trung (cũng là nơi anh từng chiến đấu) để chụp một tấm ảnh cho cuốn lịch năm sau. Sau nhiều ngày “phục kích”, người nghệ sĩ đã phát hiện và chụp được “một cảnh đắt trời cho” – đó là cảnh một chiếc thuyền ngoài xa đang ẩn hiện trong biển sớm mờ sương. Nhưng khi chiếc thuyền vào bờ, anh đã ngạc nhiên đến sững sờ khi chứng kiến từ chính chiếc thuyền đó cảnh người chồng vũ phu đánh đập vợ một cách dã man, đứa con vì muốn bảo vệ mẹ đã đánh trả lại cha mình.
Những ngày sau, cảnh tượng đó lại tiếp diễn và lần này người nghệ sĩ đã ra tay can thiệp . . . Theo lời mời của chánh án Đẩu (một người đồng đội cũ của Phùng) người đàn bà hàng chài đã đến toà án huyện. Tại đây, người đàn bà ấy đã từ chối sự giúp đỡ của Đẩu và Phùng, nhất quyết không bỏ lão chồng vũ phu. Chị đã kể câu chuyện về cuộc đời mình và đó cũng là lí do giải thích cho sự từ chối trên. Rời vùng biển với khá nhiều ảnh, người nghệ sĩ đã có một tấm được chọn vào bộ lịch “tĩnh vật hoàn toàn” về “thuyền và biển” năm ấy. Tuy nhiên, mỗi lần đứng trước tấm ảnh, người nghệ sĩ đều thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai và nếu nhìn lâu hơn bao giờ anh cũng thấy hình ảnh người đàn bà nghèo khổ, lam lũ bước ra từ tấm ảnh.


HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT - 1981 (Lưu Quang Vũ)

Trương Ba, gần 60 tuổi- là một người làm vườn tốt bụng, đặc biệt rất cao cờ. Do tắc trách, Nam Tào gạch bừa tên Trương Ba, khiến ông phải chết oan. Vợ Trương Ba lên Thiên đình kiện. Theo gợi ý của Đế Thích,  để sửa sai, Nam Tào cho hồn Trương Ba nhập vào thể xác hàng thịt ở làng bên vừa mới chết, mới ngoài 30 tuổi, để được sống lại, ,.
Trú nhờ thể xác hàng thịt, hồn Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái : lí trưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng; gia đình Trương Ba ngày càng lủng củng.  Đặc biệt, sống bằng thân xác hàng thịt, Trương Ba dần dà tiêm nhiễm một số thói xấu và những nhu cầu vốn xa lạ  với ông. Gay nhất là chị hàng thịt đòi hỏi Trương Ba phải là người đàn ông thực sự của chị. Lí trưởng nhân đấy sách nhiễu vòi tiền; con trai Trương Ba ngày càng đắc ý, lấn lướt, coi thường bố. Ngược lại, vợ, con dâu, cháu nội Trương Ba không thể chịu nổi và dần dần xa lánh. Trương Ba vô  đau khổ.
Trước nghịch cảnh ấy, Trương Ba quyết định trả lại thân xác cho hàng thịt, cũng không chấp nhận nhập vào xác cu Tị , kiên quyết chấp nhận cái chết.


Tóm tắt phần trích giảng  truyện ngắn Số phận con người (1957) của Sô-lô-khốp

          Chiến tranh kết thúc, Xô-cô- lôp giải ngũ nhưng không muốn trở lại quê nhà. Anh đến chỗ của một đồng đội cũ, xin làm lái xe cho một đội vận tải. Tình cờ anh gặp chú bé Va-ni-a mồ côi, không nơi nương tựa vì bố mẹ em đều đã chết trong chiến tranh. Ngay lập tức, anh quyết định nhận Va-ni-a làm con. Chú bé ngây thơ tin rằng Xô-cô-lốp là bố đẻ của mình. Xô-cô-lôp yêu thương, chăm sóc chú bé thật chu đáo và xem nó là niềm vui lớn, niềm an ủi của mình. Tuy nhiên, anh vẫn bị ảm ảnh bởi những mất mát quá lớn trong chiến tranh. Hằng đêm anh vẫn mơ thấy vợ và các con của mình, « thức giấc thì gối đẫm nước mắt ».
          Rồi một chuyện rủi ro xảy ra : xe anh đụng phải con bò và anh bị thu hồi bằng lái, phải chuyển sang làm thợ mộc để kiếm sống. Theo lời mời của một người bạn khác, ở Ka-sa-rư, anh dẫn bé Va-ni-a đến đó với hi vọng chừng nửa năm sau anh được cấp lại bằng lái mới. Dù thế, anh vẫn cố trấn tĩnh, vì không muốn để bé Va-ni-a biết được tâm trạng đau buồn của mình.


Tóm tắt cốt truyện truyện ngắn Thuốc (1919) của Lỗ Tấn

- Chương I: Vợ chồng Hoa Thuyên- chủ một quán trà nghèo- có đứa con trai độc nhất mắc bệnh lao rất nặng. Nhờ có người mách, vào một đêm thu lúc trời chưa sáng hẳn, lão Hoa Thuyên  tìm tới pháp trường để mua chiếc bánh bao tẩm máu người vừa chịu án chém về cho con ăn vì cho rằng ăn như thế nó sẽ khỏi bệnh.
- Chương II: Vợ chồng Hoa Thuyên cho bé Thuyên ăn thuốc. Thằng bé thật tiều tuỵ, đáng thương. Vợ chồng Hoa Thuyên đặt hết niềm tin tưởng vào sự hiệu nghiệm của phương thuốc này.
- Chương III: Trời vừa sáng,  lúc bé Thuyên ăn thuốc xong, quán trà nhà lão Hoa Thuyên dần đông khách. Câu chuyện của khách xoay quanh hai sự việc. Sự việc thứ nhất là tất thảy bọn họ đều tin tưởng vào công hiệu của phương thuốc bánh bao tẩm máu tươi mà thằng bé vừa ăn . Hai là họ bàn tán về người tù bị chém sáng nay. Qua lời của Cả Khang thì người bị chém tên là Hạ Du người trong địa phương. Hạ Du theo đuổi lí tưởng đánh đổ nhà Mãn Thanh, giành chủ quyền cho người Trung Quốc (Thiên hạ nhà Mãn Thanh chính là của chúng ta). Hạ Du bị bắt vì người bà con tố giác. Trong tù Hạ Du vẫn tuyên truyền tư tưởng cách mạng. Tuy nhiên, tất cả những người có mặt trong quán trà hôm đó không một ai hiểu đúng về Hạ Du. Bọn họ cho Hạ Du là điên, là thằng khốn nạn.
- Chương IV: Vào một buổi sáng Thanh minh năm sau, mẹ Hạ Du và bà Hoa Thuyên cùng đến nghĩa địa (dành cho người nghèo, người tù và người bị chém) viếng mộ con. Hai người mẹ đau khổ bước đầu có sự đồng cảm . Họ rất ngạc nhiên khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa. Mẹ Hạ Du đã bắt đầu hiểu ra việc làm của con bà và tin tưởng những kẻ giết hại Hạ Du nhất định sẽ bị quả báo.


Tóm tắt truyện Ông già và biển cả (1952)của Hê-minh-uê

Nhân vật trung tâm của tác phẩm là Xan-ti-a-gô -một "ông già" đánh cá người Cuba, 74 tuổi .
Suốt 84 ngày liền, ông lão không bắt được một mống cá nào, dân làng chài cho rằng lão đã “đi đứt” vì vận rủi. Cậu bé Ma-nô-lin cũng bị cha mẹ không cho đi câu chung với lão nữa.
Vào ngày thứ 85, lão quyết định ra khơi trước khi trời sáng. Lần này lão đi thật xa, đến tận vùng Giếng Lớn. Khoảng trưa, một con cá lớn cắn câu, kéo thuyền về hướng tây bắc.
Sáng ngày thứ hai, con cá nhảy lên . Đó là một con cá kiếm, lớn đến nỗi trước đây lão chưa từng nhìn thấy. Con cá lại lặn xuống, kéo thuyền chạy về hướng đông.
Sang đến ngày thứ ba, con cá bắt đầu lượn vòng. Dù đã kiệt sức, lão kiên trì thu ngắn dây câu, rồi dốc toàn lực phóng lao đâm chết được con cá, buộc nó vào mạn thuyền dong về. Nhưng chẳng bao lâu nhiều đàn cá mập đánh hơi được đã lăn xả tới. Từ đó đến đêm, lão lại đem hết sức tàn chống chọi với lũ cá mập- phóng lao, vung chày, thậm chí dùng cả mái chèo để đánh- giết được nhiều con, đuổi được chúng đi, nhưng lão biết con cá kiếm của mình chỉ còn trơ lại một bộ xương.
Đến khuya, đưa được thuyền vào cảng, về đến lều, lão vật người xuống giường và chìm vào giấc ngủ , rồi mơ về những con sư tử
  

TÓM TẮT TRÍCH ĐOẠN ĐỌC HIỂU TRONG SÁCH GIÁO KHOA

Sang đến ngày thứ ba, con cá bắt đầu lượn vòng. Bằng tất cả kinh nghiệm và sự khéo léo lão thận trọng thu dây câu nhưng lão biết vòng tròn còn khá lớn, con cá hãy còn xa tầm tay của lão. Từng tí một lão cố gắng thu hẹp vòng lượn của con cá và phát hiện rằng con cá đã thấm mệt nên liên tục ngoi lên trong lúc bơi.
           Sau cú quật đột ngột và cú nảy mạnh ở sợi dây, lão sợ con cá nhảy lên có thể làm văng mất lưỡi câu. Nhưng con cá không nhảy lên mà bắt đầu lượn vòng chầm chậm. Lão cho đó là cơ hội lí tưởng để mình nghỉ ngơi dưỡng sức .
 Đến vòng lượn thứ ba, lần đầu tiên lão thấy con cá như một cái bóng đen lướt qua dưới con thuyền, rồi trông thấy rõ hơn khi nó mấp mé mặt nước. Đến vòng lượn tiếp theo, lão trông thấy lưng cá nhưng nó vẫn còn ở xa thuyền. Lão chuẩn bị lao, và thu dần dây câu. Đến mấy vòng lượn sau con cá tiến gần mạn thuyền . Dù đã kiệt sức, lão vẫn giẫm chân giữ dây câu, rồi dốc toàn lực phóng lao đâm vào chỗ hiểm giết chết được con cá. Máu cá loang ra nhuộm sẫm cả vùng nước chung quanh. Con cá chết thẳng đơ, trắng bạc và bồng bềnh theo sóng.
            Không thể đưa con cá lên thuyền vì nó quá lớn, lão cẩn thận buộc nó dọc theo mạn thuyền, giương buồm về bến. Lão thật sự hài lòng và tự hào với thành quả lao động của mình.

Thứ Tư, 7 tháng 12, 2011

Phân tích hình tượng Lorca và cây đàn - Thanh Thảo -



Thanh Thảo sinh năm 1946, quê ở Mộ Đức, Quảng Ngãi. Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn, trường đại học Tổng Hợp Hà Nội, ông vào công tác ở chiến trường chống Mỹ ác liệt. Thanh Thảo được công chúng yêu văn học biết đến qua các tác phẩm mang diện mạo độc đáo về chiến tranh và thời kì hậu chiến như: "Những người đi tới biển" (1977), "Dấu chân qua trảng cỏ" (1958), "Khối vuông ru-bích" (1985), "Từ 1 đến 100" (1988)... Thanh Thảo là nhà thơ đi tiên phong trong nỗ lực đổi mới thơ Việt. Ông luôn có ý thức tìm tòi, cách tân cho nền thơ Việt đương đại. Bài thơ :"Đàn ghi-ta của Lorca" được ông viết ở trại sáng tác Quân khu 5- Đà Nẵng năm 1979, được công chúng biết đến lần đầu vào 1985 khi tập thơ "Khối vuông ru-bích" ra đời. Đây là bài thơ tiêu biểu cho kiểu tư duy Thanh Thảo. Bài thơ đã tái hiện được vẻ đẹp hình tượng Garcia Lorca, nhà thơ vĩ đại nhất Tây Ban Nha thế kỉ 20. Federico Garcia Lorca sinh ngày 5/6/1898ở tỉnh Granada, miền Nam Tây Ban Nha. Không chỉ là một nhà thơ nổi tiếng, ông còn có tài năng về âm nhạc và hội hoạ. Là con chim hoạ mi xứ Espagna, ông sáng tác rất nhiều khúc ngẫu hứng cho ghi-ta. Như một nghệ sĩ du ca lãng tử, Lorca đi lang thang cất lên tiếng hát ca ngợi tự do và cái đẹp cùng cây đàn duyên dáng này. Lorca không chỉ vĩ đại với đất nước TBN, ông còn là nhà thơ vĩ đại đối với toàn thế giới. Người TBN gọi ông là con chim hoạ mi TBN, còn người Mỹ thì coi Lorca như nhà thơ vĩ đại của chính nước Mỹ. Chính những câu thơ mạnh mẽ ,hùng hồn thấm đậm tư tưởng lớn lao , phi thường của Lorca đã khiến cho bọn thể chế độc tài Franco lo sợ. Ngày 19/8/1936, chúng điệu Lorca ra bãi bắn để phi tang 1 con người với những tư tưởng tiến bộ. Là nạn nhân đầu tiên của chủ nghĩa phát xít, thi thể Lorca được tìm thấy trong đống xác 1500 người trên 1 miệng sâu gần Granada, nơi khởi đầu và cũng là nơi kết thúc sự sống của một con người kiệt xuất, một nhà thơ vĩ đại.

Bài thơ "DGTCLC" thể hiện chân dung đẹp đẽ của nghệ sĩ Lorca trong sự ngưỡng mộ, lòng đồng cảm và sự tiếc thương sâu sắc của tác giả TT. Xuyên suốt bài thơ, song hành với hình tượng Lorca là hình tượng cây đàn. Tiếng đàn cất lên tiếng lòng của Lorca trước cuộc sống, trước thời đại. Nó là linh hồn, là tinh thần của Lorca, và hơn hết là số phận của nhà thơ vĩ đại này:

                                       "Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn"
                                                                           _PH.G.LORCA_

Bằng hình ảnh cây đàn ghi-ta, nhạc cụ truyền thống tiêu biểu nhất của đất nước và âm nhạc TBN dùng làm hình ảnh biểu tượng nv trữ tình trong bài thơ, tác giả nói đến sự gắn bó máu thịt, suốt đời giữa Lorca và âm nhạc. Qua cây đàn truyền thống của âm nhạc và đất nước mình , một nét độc đáo trong bản sắc văn hoá của con người và đất nước TBN, nhà thơ Lorca đã thể hiện tình yêu sâu sắc ,tha thiết đỗi với quê hương, tổ quốc. Tình yêu nghệ thuật và quê hương đó sẽ mãi mãi sánh bước cùng Lorca đi đến bất cứ nơi đâu, kể cả khi sang bên kia thế giới.

Mở đầu bài thơ, ta hình dung ra 1 kgian TBN đặc thủ, 1 đất nước của những làn điệu ghita du dương- Tây Ban cầm, cả tấm áo choàng matador khoác trên mình các đấu sĩ:

                                       "những tiếng đàn bọt nước
                                       TBN áo choàng đỏ gắt
                                       lila lila lila
                                       đi lang thang về miền đơn độc
                                       với vầng trăng chếnh choáng
                                       trên yên ngựa mỏi mòn"

Thanh Thảo đã gợi vẻ đẹp của tiếng đàn dựa trên những liên tưởng ngoài thơ :" tiếng đàn bọt nước" , ta chợt thấy hình ảnh có những nét tương đồng trong ca dao : "Trời mưa bong bóng phập phồng" . Bọt nước dường như là hiện thân của số phận tiếng đànm thật mong manh, ngắn ngủi và dễ vỡ. Câu thơ tuy giản dị nhưng khắc hoạ rõ nét định mệnh phũ phàng, chông gai đang đón chờ người nghệ sĩ tài hoa phía trước.
Nếu như "tiếng đàn" khiến ta nghe được âm thanh, "bọt nước" gợi ta thấy được hình ảnh, thì câu thơ trên là kết quả của sự kết hợp tài tình giữa cơ quan thính giác với thị giác để ta có thể cảm nhận tiếng đàn 1 cách rõ nét và sâu sắc. TT đã rất thành công khi cấu tạo nên hình ảnh bằng sự ánh chiếu của nhiều kênh cảm giác, gây ấn tượng cho người đọc.

"Tấm áo choàng đỏ gắt" nhắc ta nhớ tới những đấu trường bò tót truyền thống ở TBN . Thế nhưng, trong bối cảnh chính trị ngột ngạt và căng thẳng lúc bấy giờ, thì đây lại là một đấu trường xã hội bạo lực và đẫm máu giữa nền chính trị độc tài và khát vọng dân chủ tự do, cũng như nền nghệ thuật già nua với khát vọng cách tân, đổi mới nghệ thuật. Dù trong đấu trường chính trị, nghệ thuật hay số phận thì Lorca mãi là người đấu sĩ đơn độc và cô đơn.

Giữa bầu không khí sôi sục của bạo lực, của máu, tiếng đàn ghi-ta vẫn cất lên du dương và êm đềm :"lila lila lila" như muốn xoa dịu, trấn an con người, góp phần xua đi sự hiện diện của bạo tàn, tội ác nơi đây. Đặc biệt, câu thơ còn vẽ ra 1 bức tranh đầy ý nghĩa : Giữa cánh đồng xơ xác đầy gai nhọn, sự chết chóc bao trùm, ta chợt nhận ra sự xuấ hiện của loài hoa màu tím: lila-loài hoa đặc trưng cho xứ sở TBN, còn có cái tên khác thật đẹp: tử điinh hương. Loài hoa ấy như biểu tượng của sự kiên cường, sức sống, đem lại hoà bình nơi tội ác đang ngự trị. Như vậy, chỉ với 1 dòng thơ "lila lila lila", tác giả TT đã khéo léo hoà quyện hai yếu tố âm thanh và màu sắc để phác lên nỗi buồn mang mác, dìu dịu của người nghệ sĩ lãng du, yêu tự do khi đứng trước tỉnh cảnh rối ren của nước nhà.

Như vậy, dù ở góc độ nào, ta cũng nhần ra đây là cuộc đấu không cân sức, Lorca đang rất đơn đọc trên hành trình lí tưởng đầy gian nan, soi bóng lẻ loi giữa con đường đầy nguy hiểm mà chỉ có cây đàn, tiếng hát hộ thân.
Với tiếng đàn, người nghệ sĩ du ca lãng tử Lorca đi lang thang , chếnh choáng trong men hơi say của đất trời nghệ thuật. Chàng là người cất tiếng hát ca ngợi tự do và cái đẹp trong một thế giới bạo tàn và tăm tối:

                                       " đi lang thang về miền đơn độc
                                       với vầng trăng chếnh choáng
                                       trên yên ngựa mỏi mòn"

Lấy trăng làm bầu bạn, lang thang trên yên ngựa tiến về 1 nơi vô định, Lorca gợi cho ta nhớ về chàng hiệp sĩ Đôn Kihote nổi tiếng của nhà văn Xécvantec. Nhưng nếu Đôn Kihote bước tới phía trước với niềm hứng khởi trên con đường làm hệp sĩ, thì Lorca lại cất bước lang thang với nỗi buồn vô hạn trên con đường nghệ thuật còn bế tắc. Nếu Đôn Kihote có người giám mã trung thành Xancho Panxa kề cận, thì Lorca chỉ có mảnh trăng cô đơn làm tri kỉ. Như vậy, dù ở phương diện nào, Lorca mãi lad 1 thi sĩ, 1 chiến sĩ cô độc , lẻ loi với lí tưởng , mục đích nghệ thuật riêng.

Qua khổ thơ đầu bài, hình tượng Lorca được cảm nhận ở nhiều khía cạnh, ở nhiều góc độ khác nhau, thông qua những nét chấm phá, những mảng màu dường như không đồng chất, đồng tông, TT đã dựng lên 1 khối toàn vẹn về 1 nghệ sĩ tài năng và chân chính nhưng có 1 sp oan khốc trong môi trường chính trị bạo tàn.

                                       " TBN
                                       hát nghêu ngao
                                       bỗng kinh hoàng
                                       áo choàng bê bết đỏ
                                       Lorca bị điệu về bãi bắn
                                       Chàng đi như người mộng du"

Với sự chuyển ý nghĩ và cảm xúc thật bất ngờ, cái chết của người nghệ sĩ thật đột ngột và đau đớn. Những tiếng hát "nghêu ngao" vô mục đích chợt im bặt. Thay vào đó là cảm giác "bỗng kinh hoàng" , 3 tiếng ngắn ngủi nhưng đã thể hiện rất trọn vẹn sự sửng sốt, bất ngờ của toàn thể nd TBN trước sự ra đi của nhà thơ tài năng vĩ đại Lorca. Có thể nói đây là cái chết gây chấn động, ảnh hưởng đến toàn thể nhân loại.
Nếu như màu "đỏ gắt" ở đầu bài thơ là tượng trưng cho chiến trường xã hội, thì hình ảnh "bê bết đỏ" ở sau là màu của máu, là dấu hiệu của sự chết chóc, tang thương. Và Lorca như một đấu sĩ bị hành hình trên đấu trường chính trị TBN trong bầu không khí tai ương bao phủ:

                                       "Lorca bị điệu về bãi băn
                                       chàng đi như người mộng du"
" Tôi không muốn nhìn thấy máu!" (Que no quiero Verla!) Lorca đã thảng thốt kêu lên trong 1 bài thơ định mệnh của mình, bài " Bica cho Igracio Sanchez Meijas". Nhưng "máu đã chảy tràn" chỉ 1 năm sau khi bài thơ tuyệt tác này ra đời, và máu đó là của Lorca. Ngay ở câu đề từ bài thơ :" Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn", ta dễ dàng nhận ra Lorca luôn dự cảm và ám ảnh bởi cái chết, thế nhưng ông cũng không ngờ cái chết phũ phàng nhất đã ập xuống thân phận mình quá sớm, ở cái tuổi 38, tuổi con người đang vào độ phát tiết tinh hoa và bao nhiêu hoài bão, khát vọng còn dang dở. Vậy nên "chàng đi như người mộng du", đầy bàng hoàng và đau đớn , khi con đường nghệ thuật biết bao công sức gây dựng, như 1 toà lâu đài nguy nga tráng lệ , giờ đành bỏ hoang.

Lorca từng suy nghĩ về cái chết , từng tự trả lời câu hỏi :"Mình sẽ chết như thế nào? Ở đâu?" Và Lorca muốn được chết " tử tế trên giường mình", muốn được nằm trong đất cùng với cây đàn thơ của mình. Nhưng sự Bạo Tàn nào chịu buông tha cho ai. Bọn Phát xít là giống ruồi nhặng, là mầm mống cái chết mang hình con nhặng, "cái chết đẻ trứng vào vết thương" như 1 câu thơ của Lorca đã chỉ chính xác. Đau đớn thay, trong thơ của Lorca lại mang nặng những vết thương, những nỗi đau, trăn trở trở về con người và sự tự do. Lorca trở thành nạn nhân của bọn phát xít Franco là điều ko thể tránh khỏi. Nhưng nghiệt ngã thay, chúng ko những là kẻ sát nhân, à còn là những tên tội đồ dám ra tay sát hại cái đẹp, thủ tiêu cái tài, huỷ diệt nghệ thuật chân chính.

Khi đứng trước họng súng tử thần, ai cũng có những hồi tưởng về quá khứ, về những kỉ niệm gắn bó, thân thương nhất. Lorca cũng không phải là ngoại lệ, tâm tưởng chàng hiện lên như 1 thước phim quay chậm về những gì chàng đã trải qua: có ngọt ngào và đắng cay, có đau khổ và hạnh phúc:

                                       " tiếng ghita nâu
                                       bầu trời cô gái ấy
                                       tiếng ghita lá xanh biết mấy
                                       tiếng ghita tròn bọt nước vỡ tan
                                       tiếng ghita ròng ròng
                                       máu chảy"

Tiếng đàn của Lorca vửa có đầy đủ các cung bậc, vừa tái hiện những màu sắc hình khối đầy tính tượng trưng và biểu cảm.

Màu nâu là màu sắc có sự biến ảo nhiều nét nghĩa. Có khi là màu nâu của chất liệu cây đàn, có khi là màu nước da của những cô gái Di gan cuồng nhiệt, sôi nổi. Và đặc biệt đó cũng là màu của đất mẹ TBN thân yêu. Trên phông nền của màu nâu, Lorca nhớ về bầu trời tượng trưng cho sự tự do, nhớ về cô gái Digan, hình ảnh tiêu biểu cho xứ sở TBN. Như vậy, chỉ thông qua 2 câu thơ, ta nhận ra cảm xúc chủ đạo của Lorca khi cận kề cái chết là nỗi niềm hướng tới quê hương, tổ quốc. Chuyển sang màu xanh của lá, màu xanh của hy vọng, của khát vọng sống, tuổi trẻ, niềm tha thiết của Lorca với cuộc sống trỗi dậy mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Thông qua những hình ảnh thị giác ("tròn","vỡ tan") ,âm thanh thính giác ("rongf ròng","máu chảy"), TT đã thốt lên sự nuối tiếc ,ngậm ngùi cho 1 vẻ đẹp nghệ thuật đang bị phá huỷ. Tiếng vỡ oà, tức tưởi cất lên đau đớn đến xót xa.

Phép điệp "tiếng ghita" chạy trước bài thơ vừa dẫn dắt mạch thơ vừa liên kết khổ thơ ,tạo nên độ luyến láy của 1 bản nhạc. Tiếng đàn đã tạo nên hình sắc, hoá thân thành số phận, linh hồn , nghệ thuật của người nghệ sĩ Lorca. Như vậy, cái chết bất ngờ của Lorca đã được diễn tả bảng hình ảnh thực, tạo cú sốc dây truyền theo lối tượng trưng, liên tục chuyển đổi cảm giác qua hệ thống âm thanh vỡ ra thành màu sắcm hình khối ("dòng máu chảy") . Chỉ qua âm thanh mà ta có thể cảm nhận đủ mọi dáng vẻ, sắc màu, linh hồn của con người và thần thái của vạn vật. Có thể nói nếu Lorca là 1 nghệ sĩ tài hoa, kiệt xuất thì TT cũng thực sự là 1 nghệ sĩ ngôn từ bậc thầy.

                                       "Không ai chôn cất tiếng đàn
                                       tiếng đàn như cỏ mọc hoang
                                       giọt nước mắt vầng trăng
                                       long lanh trong đáy giếng"

Nhà thơ TT đã lấy lời di chúc của Lorca :"Khi tôi chết ..." làm lời đề từ cho bài thơ của mình . Đậy chính là di ngôn đầy tâm huyết của 1 người nghệ sĩ chân chính. Lorca ko muốn nghệ thuật của mình vì được công chúng yêu mến mà đưa lên đài danh dự rồi vô tình trở thành vật cản trên con đường cách tân, phát triển thơ ca của thế hệ sau. Thơ ca cũng như văn chương, luôn cần hơi thở mới. Như nhân vật Hộ trong tác phẩm của NC từng nhận xét : "Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra những cái gì chưa có". Hay Đại thi hào M.Gorki cũng từng thốt lên : "Cái bình thường là cái chết của nghệ thuật"

Thế nhưng, trái ngược với tâm nguyện của Lỏca :" không ai chôn cất tiếng đàn" và thực tế dù có muốn chôn vùi cũng không được. Đây là một tiếng đàn, một giá trị tinh thần chứ không phải là một cây đàn vâth thể. Tiếng đàn ấy trường cửu cùng tự nhiên và hơn thế, bản thân nó chính là tự nhiên. Nó vẫn ko ngừng vươn lên, lan toả ngay cả khi người nghệ sĩ đã sáng tạo ra nó đã ra đi.

Đau đớn thay, cái chết thực sự của 1 nhà cách tân là khi khát vọng, sự nghiệp của anh ta ko có ai kế tục, nhưng cái chết đau đớn hơn của 1 nhà cách tân còn là khi tên tuổi và sự sáng tạo của anh ta được đem lên bệ thờ và trở thành 1 bức tường kiên cố, cản trở sự cách tân văn chương của những người đến sau.

Bằng biện pháp so sánh "cỏ mọc hoang", nhà thơ TT đã thể hiện sức sống mãnh liệt, sự bất tử, sự lan toả của nền nghệ thuật chân chính. Câu thơ "Giọt nước mắt vầng trăng" gợi cho ta sự ngưng đọng của buồn đau, thương xót. Giọt nước mắt sáng đẹp và vĩnh cửu như vầng trăng đó cũng là những giọt nước mắt của anh hùng:
"Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo" (Nguyện Đình Chiểu)

Tại giếng nước, nơi kẻ thù vứt xác Lỏca lại là nơi toả sáng tâm hồn chàng như có ánh trăng soi vào : "tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm...tủi phận bạc trôi theo dòng nước đổ..."
Thông qua đoạn thơ, tác giả đã gửi gắm nỗi đau xót, thương tiếc cho hành trình nghệ thuật còn dang dở của Lorca, đồng thời thể hiện niềm tin sâu sắc vào sự bất tử của nghệ thuật chân chính.

                                       " đường chỉ tay đã đứt
                                       dòng sông rộng vô cùng
                                       Lorca bơi sang ngang
                                       trên chiếc ghi-ta màu bạc"

Nếu như hình ảnh "đường chỉ tay" là hiện thân cho thiên mệnh thì biểu tượng "dòng sông" là vạch mốc ngăn cách 2 cõi âm dương. "Đường chỉ tay đã đứt" thể hiện cho cái hữu hạn, cho số phận con người, tượng trưng cho cú giáng phũ phàng, trái ngang của số mệnh, đối lập với "dòng sông vô cùng", tượng trưng cho sự vô hạn, dòng chảy cuộc đời, dòng chảy nghệ thuật và sự siêu thoát về cõi hư vô.

Hình ảnh "chiếc ghi-ta màu bạc" là biến ảnh của chiếc ghita nâu khi đã sang cõi khác. Sự biến chuyển màu sắc từ nâu sang bạc tức là sự biến đổi trạng thái từ thực sang hư, từ cõi dương sang cõi âm. Đặc biệt màu bạc là màu của sự vĩnh hằng, ánh bạc biêng biếc tạo nên sự hư ảo của 1 màu huyền thoại.

Hãy nhắm mắt và lặng lòng để chiêm ngưỡng 1 sự siêu thoát, 1 sự hoá thân. Trên dòng sông của định mệnh, của thời gian vĩnh cửu, ta thấy bóng chàng Lorca "bơi sang ngang, trên chiếc ghita màu bạc". Chàng đang vẫy tay chào nhân loại để đi vào cõi bất tử. Chiếc ghi-ta chàng gắn bó suốt cuộc đời nay cũng là con thuyền thơ cùng chàng đi về miền đất hư vô, huyền thoại.

                                       "chàng ném lá bùa cô gái Digan
                                       vào xoáy nước
                                       chàng ném trái tim mình
                                       vào lặng yên bất chợt"

Lorca đã ném "lá bùa cô gái Digan" vào xoáy nước 1 cách dứt khoát. Chàng còn cần lá bùa hộ mệnh làm gì khi nó ko thể giúp chàng níu kéo sự sống? Lá bùa định mệnh dần dần trôi vào xoáy nước, khép lại cuộc đời Lorca, một người chiến sĩ phát xít kiên cường, vĩ đại.

Trái tim đã dừng nhịp đập, cũng như khát vọng tự do và cách tân nghệ thuật đã phải ngừng lại mãi mãi. Chàng nghệ sĩ du ca Lorca đã câm lặng, tự nguyện chôn vùi, hi sinh vì nghệ thuật mà suốt đời chàng theo đuổi.
Với hình ảnh đầy chất mộng, câu thơ đã tái hiện sự giã từ của Lorca, thật thanh thản, nhẹ nhàng, đậm chất nghệ sĩ. Chàng đã có thể thực sự chia tay với những ràng buộc và hệ luỵ trần gian để nhắm mắt yên nghỉ trong giấc ngàn thu.

                                       "lila lila lila..."

Những âm thanh, nốt nhạc xao xuyến của tiếng đàn sẽ mãi ngân nga, vang vọng trong lòng độc giả nói chung và người yêu thơ Lorca nói riêng. Những đoá hoa tử đinh hương tím ngát âm thầm tiễn biệt linh hồn Lorca. Có thể nói sự vùi dập đã nhường chỗ cho sự thăng hoa, sự đau đớn đã nhường chỗ cho sự tôn vinh.

Bài thơ có mạch cảm xúc rất đa dạng. Từ sự đồng cảm sâu sắc của tác giả đối với người nghệ sĩ tự do, cô đơn đến nỗi xót thương, đau đớn trước cái chết oan khuất của 1 con người có tài năng xuất chúng. Cuối cùng, khép lại bài thơ là tấm lòng ngưỡng mộ, niềm tin vào sự bất tử của Lorca. Qua đõ nhà thơ TT đã khắc hoạ 1 hình tượng Garcia Lorca huyền thoại. Xuyên suốt bài thơ, song hành cùng hình tượng Lorca chính là cây đàn thơ muôn thuở. Đàn ghi-ta là tâm hồn của chính Lorca, là khí phách kiên cường của người chiến sĩ yêu tự do, hoà nhịp trái tim mình với quần chúng nhân dân và toàn thể nhân loại.
Bài thơ "Đàn ghi-ta của Lorca" ; là tp tiêu biểu cho tư duy thơ của TT: với nội dung giàu chất suy tư về các vấn đề xã hội và thời đại, mạch cảm xúc mãnh liệt và phóng túng, cùng với lối biểu đạt ấn tượng và hiệu quả, bài thơ sẽ mãi vấn vương, in dấu sâu đậm trong lòng người đọc.

VẺ ĐẸP TÂM HỒN NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG TÌNH YÊU QUA BÀI THƠ “SÓNG” (XUÂN QUỲNH)



“Sóng” được in trong tập “Hoa dọc chiến hào”, xuất bản năm 1968 của nữ nhà thơ tình nổi tiếng Xuân Quỳnh. Bài thơ nói về tâm trạng, tình yêu mãnh liệt của người con gái khi yêu. Hãy đến với bài thơ bằng nhạc điệu, bài thơ là âm điệu của một cõi lòng bị sóng khuấy động, đang rung lên đồng điệu đồng nhịp với sóng biển. Rạo rực đến xôn xao, khát khao đến khắc khoải, có một hình tượng sóng được vẽ lên bằng âm điệu, một âm điệu dập dồn, chìm nổi, miên man như hơi thở chạy suốt cả bài.

Sắc điệu trữ tình của bài thơ được gợi lên từ hình tượng sóng. Cả bài thơ là những con sóng tâm tình xôn xao trong lòng người con gái đang yêu khi đứng trước biển ngắm nhìn những con sóng vô hồi, bất tận. Sóng là một hình tượng ẩn dụ, đó là sự hoá thân của cái tôi trữ tình của nữ sĩ, lúc thì hoà nhập, lúc sự phân thân của “em” - người con gái đang yêu một cách say đắm. Sóng đã khơi gợi một hồn thơ phong phú, hồn nhiên, sôi nổi. Thông qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh đã có một cách nói rất hay để diễn tả tâm trạng của người con gái.

Sóng biến hoá, sóng vỗ liên hồi, triền miên và bất tận:

“Dữ dội và dịu êm
ồn ào và lặng lẽ”

trạng thái của sóng cũng là tâm trạng khi yêu, là khát vọng to lớn, mạnh mẽ về một tình yêu chân thành. Hành trình của sóng từ sông ra đại dương:

“Sông không hiểu nổi mình
Sóng tìm ra tận bể”

nơi mênh mông dạt dào, có đến nơi biển rộng trời cao sóng mới được vẫy vùng, mới thực sự tìm thấy mình trong sức sống mạnh mẽ với những khát khao to lớn. Sóng được làm biểu tượng của tình yêu. Miêu tả sóng biến hoá là cũng để nói lên cái phức tạp, đa dạng, khó hiểu của tình yêu. Cũng giống như sóng biển, tình yêu là một hiện tượng kỳ diệu của con người. Con sóng “ngày xưa” và con sóng “ngày sau” vẫn thế - triền miên, bất tận. Cũng như tình yêu mãi mãi là khát vọng của tuổi trẻ, của đôi lứa, cuả anh và em:

“Ôi con sóng ngày xưa
Và ngày sau vẫn thế
Nỗi khát vọng tình yêu
Bồi hồi trong ngực trẻ” .

Con sóng tìm đến biển, đến đại dương là để tự hiểu mình. Cũng như em “khát” được đến bên anh, đến với một tình yêu đẹp để hiểu rõ hơn về tâm hồn em về con người đích thực của em. Người con gái hỏi sóng hay đang tự hỏi chính mình:

“Sóng bắt đầu từ gió
Gió bắt đầu từ đâu
Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau”

cái giây phút giao duyên của đôi lứa. “Khi nào ta yêu nhau” tìm được một câu trả lời thật khó, bởi tình yêu là một hiện tượng, một thứ tình cảm khó có thể cắt nghĩa được. Bởi vậy trong bài thơ tình số 21 của thi hào Tagor đã viết rằng :

“Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy
Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu”

Câu thơ “khi nào ta yêu nhau” đã diễn tả đúng nỗi niềm điển hình của những trai gái đang sống trong tình yêu đẹp. Sóng vỗ “dữ dội - dịu êm” , “ồn ào - lặng lẽ”, sóng “dưói lòng sâu” “sóng” trên mặt nước”, sóng nhớ bờ, đó là biểu hiện của tình yêu và nỗi nhớ. Yêu chân thành tha thiết, nhớ bồi hồi triền miên. Nỗi nhớ ấy day dứt, dày vò, choán đầy cả không gian, thấm trong chiều sâu, bề rộng, trải trong chiều dài thời gian:

“Con sóng dưới lòng sâu
Con sóng trên mặt nước
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được”

Thật tự nhiên và thơ mộng, con sóng nhớ bờ nên ngày đêm sóng vỗ, sóng thao thức với thời gian và đại dương. Cũng giống như bên đợi thuyền, thuyền nhớ bến, lúc nào lòng người con gái cũng bồi hồi nhớ thương:

“Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”

“Còn thức” tức là lúc nào em cũng nhìn thấy rõ hình bóng anh, ánh mắt anh ... Một tình yêu cuồng nhiệt, say mê. Con sóng khao khát được đến bờ để được vỗ về, ve vuốt:

“Hôn thật khẽ thật êm
Hôn êm đềm mãi mãi”
(Xuân Diệu)

Cũng như “em” muốn được gần bên anh, được hoà nhịp vào trong tình yêu với anh. Tình yêu của người con gái thật mãnh liệt, nồng nàn. Sóng xa vời cách trở vẫn tìm được tới bờ, cũng như anh và em sẽ vượt qua mọi khó khăn để đến với nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn của lứa đôi.

“Ở ngoài kia đại dương
Trăm ngàn con sóng nhỏ
Con nào cũng tới bờ
Dù muôn vời cách trở”

Người con gái đã bày tỏ lòng mình một cách chân thành, say đắm, thắm thiết. Chân thật và thuỷ chung là đặc tính của tình yêu:

“Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh - một phương”.

Sóng đã bày tỏ nỗi lòng của người con gái, khát vọng được sống hết mình trong một tình yêu đẹp, sắt son thuỷ chung. Người ta thường nói xuôi vào Nam, ngược ra Bắc; nhưng ở đây, trong nỗi nhớ chất đầy nhà thơ lại dùng ngược lại. Từ đó nhà thơ đã nói đến nỗi nhớ bất chấp vạn vật, khoảng cách, tình yêu là sự gặp gỡ giữa hai tâm hồn không có giới hạn.

Cuối cùng sóng đã nói hộ nhà thơ nỗi khát vọng được sống trọn vẹn trong tình yêu. Tình yêu lứa đôi đẹp đẽ, nồng nàn như trăm ngàn con sóng nhỏ giữa đại dương mênh mông, muốn được hoà nhịp vào biển lớn của tình yêu cộng đồng:

“Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ”

Cả bài thơ, nếu kể đến nhan đề, thì tác giả đã mười một lần nhắc đến từ “sóng”. Sóng vỗ như tâm tình xôn xao. Sóng cho ta nhiều ấn tượng về âm điệu của sóng, cũng như giọng điệu tâm tình, nhịp điệu của bài thơ. Thơ hồn nhiên, liền mạch về cảm xúc, trong sáng trong cách diễn đạt của tác giả. Sóng vỗ trên đại dương mênh mông cũng chính là sóng vỗ trong lòng người con gái.

Từ hình tượng “sóng” Xuân Quỳnh cho ta thấy rõ vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu. Với tình yêu chân thành, thắm thiết, người phụ nữ muốn sống hết mình, sống trọn vẹn trong tình yêu đẹp. Yêu là nhớ ngày mong đêm, người phụ nữ khát khao được hoà nhập gần gũi trong tình yêu ấy. Họ yêu thật nồng nàn, say đắm, thủy chung !

Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam ở vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những cuộc chia ly màu đỏ. Cho nên có đặt bài thơ vào trong hoàn cảnh ấy ta mới càng thấy rõ nỗi khát khao của người con gái trong tình yêu.

“Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ được” .

Đọc xong bài thơ “Sóng” ta càng ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thuỷ chung, luôn sống hết mình vì một tình yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của tình yêu lứa đôi, bà đã làm phong phú hơn cho nền thơ nước nhà.

ĐẤT NƯỚC - Nguyễn Khoa Điềm –


I.9 câu thơ đầu :Cội nguồn của đất nước

"Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể

Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất nước có từ ngày đó"

1.Đoạn thơ được mở đầu bằng lời tâm sự về cội nguồn sinh thành của đất nước

"Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi
Đất nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể “

Nhà thơ không nêu lên một điểm mốc thời gian cụ thể nào để nói về nguồn gốc của đất nước nhưng qua đó tác gải lại thể hiện được cảm xúc ngỡ ngàng đầu tiên của mỗi người khi tiếp nhận hai tiếng thiêng liêng ấy. Bằng cách nói tưởng chừng như trừu tượng, Nguyễn Khoa Điềm đã giúp ta cảm nhận được dòng thời gian đằng đẵng để thấy đất nước được hình thành từ quá khứ xa xôi. Đất nước còn hiện diện trong những câu chuyện ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể


2.Đất nước còn nhập vào cuộc sống hiện tại và gắn liền với những gì gần gũi, thân thương nhất "Đất nước bất đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn"

Tác giả đã sử dụng những chi tiết, hình ảnh giàu sức gợi để tái hiện quá trình hình thành của đất nước. Miếng trầu bà ăn thật bình dị, thân quen nhưng cũng là biểu tượng cho triết lý nhân sinh sâu sắc của người VIệt, miếng trầu là biểu tượng cho tình nghĩa thủy chung của vợ chồng, của anh em. Hình ảnh miếng trầu gợi ta nhớ đến sự tích trầu cau chứa đựng những ý nghĩa sâu xa

"Tách riêng thì đắng thì cay
Hòa chung thì ngọt thì say lòng người
Tách riêng xanh lá bạc vôi
Hòa chung thắm đỏ máu người lạ chưa
Chuyện tình ngày xửa ngày xưa…"

Đồng thời miếng trầu còn là biểu hiện cho vẻ đẹp của thuần phong mĩ tục, cho bản sắc riêng của một dân tộc trọng tình nghĩa hơn của cải vật chất "Miếng trầu là đầu câu chuyện"

3.Bên cạnh đó hình ảnh cây tre cũng gợi những truyền thuyết xa xưa:" Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc". đọc câu thơ ta lại nhớ đến cậu bé làng Gióng vươn vai lớn lên thành tráng sĩ

"Nhổ bụi tre ngà đuổi giặc Ân"
(Tố Hữu)

Truyền thuyết xa xưa ấy thể hiện trọn vẹn tinh thần bất khuất, khát vọng tự do của một dân tộc và sự trưởng thành của một dân tộc biết cầm vũ khí để đấu tranh giành độc lập tự do

4.Đất nước còn hiện diện trong những sự vật bình thường thân thuộc trong cuộc sống quanh ta
"Tóc mẹ bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn"

Đất nước đã có trong câu chuyện của mẹ, miếng trầu của bà, có trong tình nghĩa đằm thắm của mẹ của cha, thậm chí chỉ một búi tóc sau đầu của mẹ cũng ẩn chứa linh hồn dân tộc bởi lẽ đây là quan niệm thẩm mĩ mang bản sắc dân tộc. Đất nước còn hiện diện trong nghĩa tình tưởng chừng gảin đơn, thủy chung, son sắt của cha với mẹ "gừng cay muối mặn" gợi liên tưởng đến câu ca dao chứa đựng niềm hạnh phúc ngọt ngào đầm ấm, bất chấp những gian khổ nhọc nhằn như

"Tay bưng chén muối đĩa gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau"

5.Không chỉ khám phá cội nguồn của đất nước , Nguyễn Khoa Điềm còn khiến người đọc cảm nhận về công lao vĩ đại của nhân dân trên hành trình dựng nước và giữ nước

"Cái kèo cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng"

Đất nước được dựng nên từ trí tuệ, tâm huyết và đôi bàn tay cần cù, khóe léo của nhân dân. Bằng đôi bàn tay cần mẫn tài hoa họ đã dựng lên những ngôi nhà che mưa che nắng, dựng lên tổ ấm cho mình, đó cũng là khởi đầu cho không gian sống đầu tiên của đất nước. Cách nói này còn gợi cho người ta sự hình thành và phát triển ngôn ngữ khi con người biết đặt tên cho những sự vật xung quanh.

Đặc biệt hình ảnh hạt gạo " một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng" đã gợi lên cả một quá trình lao động bền bỉ và đầy sáng tạo của nhân dân. Thành ngữ "một nắng hai sương" diến tả những nhọc nhằn gian khổ của một dân tộc sinh sống bằng nghề trồng lúa nước. Những động từ "xay, giã, giần, sàng" gợi lại những vất vả gian nan và ca ngợi cả nét tài hoa tinh tế của người lao động Việt Nam. Chẳng biết qua bao thế hệ và trí tuệ của bao người mới có thể biến hạt gạo thành hạt thóc trắng ngần nuôi dưỡng chúng ta. Chỉ cần nhìn lại những vật dụng và quá trình làm ra hạt gạo, ta có thể cảm nhận được vẻ đẹp bình dị mà vĩ đại của nhân dân. Có thể nói rằng mỗi dòng thơ đều gợi lên những công lao to lớn của nhân dân, bằng chính cuộc sống của mình, họ đã góp phần tạo lập và gìn giữ đất nước cho những thế hệ sau .

6. Đoạn thơ kết thúc bằng lời khẳng định "Đất nước có từ ngày đó". Cách nói tưởng như vô hình nhưng lại mở ra cả một trường liên tưởng. "ngày đó" là thời gian bao quát, là ngày mở đầu để hình thành nên đất nước. Không ai biết "ngày đó" bắt đầu từ bao giờ, chỉ biết rằng có từ rất xa xưa. Song có một điều rất rõ, trên hành trình của mấy ngàn năm lịch sử ấy, đất nước đã được tạo lập giữ gìn nhờ chính những những người bình thường. họ không để lại tên tuổi, nhưng bằng chính cuộc sống thầm lặng và sức lao động của mình họ đã dựng lên quê hương xứ sở


II.20 câu tiếp theo :Định nghĩa đất nước

"Đất là nơi em đến trường
Nước là nơi em tắm

Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ"

1.4 câu đầu
Không chỉ tìm về cội nguồn hình thành của đất nước, nhà thơ còn muốn nêu lên định nhĩa về hai tiếng thiêng liêng ấy

"Đất là nơi em đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất nước là nơi ta hẹn hò
Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm"

Hai tiếng "đất nước" khi thì được tách riêng, khi thfi được hợp lại nhưng đều gắn liền với không gian riêng tư gần gũi của mõi người. Đất nước không phải là một biên giới xa xôi trừu tượng, không phải là một cái gì đó vô hình, trái lại, đất nước hiện hữu ngay bên cạnh chúng ta, tồn tại nagy trong trái tim mỗi người. Đất nước là con đường nơi anh đến trường, nước là nơi em tắm táp nô đùa, cũng lòa nơi nảy sinh tình cảm ngọt ngào trong trắng của tuổi thanh xuân

Đất nước còn hiện hữu trong mảnh đất dưới chân người thiếu nữ khi cô đánh rơi chiếc khăn tay trong nỗi nhớ nhung da diết. Nguyễn Khoa Điềm đã rất khéo léo khi sử dụng chất liệu văn hóa dân gian

"Khăn thương nhớ ai
Khăn rơi xuống đất"

Từ cách sử dụng đó tác giả đã thể hiện tình yêu thương gắn bó với quê hương xứ sở
Có thể nói Nguyễn Khoa Điềm đã bộc lộ một cách nhin sâu sắc mới mẻ về đất nước bởi lẽ tình cảm thiêng liêng lớn lao ấy nhất thiết phải được hình thành từ những gì gần gũi thân thương nhất trong tâm hồn mỗi người, một nhà gáio dục nổi tiếng người Nga đã nói "Muốn dạy cho một đứa trẻ tình yêu đất nước thì trước hết hãy dạy cho nó biết yêu các bậu cửa nhà mình"

2. Đất nước không chỉ gắn với những kỉ niệm riêng của mỗi người mà đất nước còn là tài sản vô giá của cả dân tộc

"Đất là nơi "con chim phượng hòang bay về hòn núi bạc"
Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"
Thời gian đằng đẵng
Không gian mênh mông
Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ"

Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng nhiều chất liệu của thần thoại, truyền thuyết để tái hiện sự hình thành không gian đất nước. Để có được không gian ấy phải trải qua thời gian đằng đẵng với bao nhiêu công sức thế hệ con người, họ đã tạo nên nơi sinh tụ cộng đồng dân tộc. như vậy đất nước vừa là cái gì đó nhỏ bé riêng tư của mỗi người lại vừa lớn lao của dân tộc.

3.4 câu tiếp theo

Nhà thơ đã sử dụng một cách sáng tạo truyền thuyền "con rồng cháu tiên " để gợi lại nguồn gốc cao quý của dân tộc

"Đất là nơi chim về
Nước là nơi rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng"

Câu thơ gợi lại niềm tự hào kiêu hãnh về nguồn gốc "con rồng cháu tiên" đó cũng là cưo sở để hình thành nên tình đồng bào thiêng liêng bền vững

4.7 câu cuối

Từ nguồn gốc cao quý của dân tộc, tác giả đã gợi lại công sức của bao thế hệ con người

"Những ai đã khuất
Những ai bây giờ
Yêu nhau và sinh con đẻ cái
Gánh vác phần người đi trước để lại
Dặn dò con cháu chuyện mai sau
Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ"

Điệp khúc "những ai" trở đi trở lại trên các dòng thơ đã làm sống dậy hình ảnh của mấy ngàn lớp người không tiếc mồ hôi xương máu để tạo dựng và gìn giữ nước non này. Hệ thống từ ngữ chỉ thời gian "đã khuất", "bây giờ", "mai sau" được nhà thơ sử dụng để nối liền quá khứ, hiện tại, tương lai. Đóa là tình yêu và trách nhiêm của mỗi người đối với quê hương đất nước. Họ đã đón nhận và gìn giữ những gì của thế hệ đi trước để lại, và họ đã sáng tạo và hoàn thiện để lại cho thế hệ mai sau. Trong đó điều hệ trọng thiêng liêng nhất chính là tình cảm cội nguồn

"Hằng năm ăn đâu làm đâu
Cũng biết cúi đầu nhớ ngày giỗ tổ"

Hai dòng thơ của Nguyễn Khoa Điềm đã mượn ý tứ của câu ca dao xưa

"Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba
Dù ai buôn bán gần xa
Nhớ ngày giỗ tổ tháng ba mùng mười"

Chỉ một câu ca dao cũng đủ nói lên sự gắn bó máu thịt của người Việt với quê hương đất nước . dù có bộn bề công việc, dù có ngược xuôi nơi nào, họ cũng luôn hướng vè cội nguồn, miền đất tổ linh thiêng đã trở thành biểu tượng, thành linh hồn của đất nước


III.13 câu tiếp theo : tình yêu trách nhiệm đối với quê hương đất nước

"Trong anh và trong em hôm nay
Đều có một phần đất nước

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời"

1.4 câu đầu

Từ cảm nhận về cội nguồn đất nước, Nguyễn Khoa Điềm đã dẫn dắt người đọc đến một đinh nghĩa khái quát và sâu sắc : đất nước là sự hào quyện giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và cộng đồng

"Trong anh và trong em hôm nay
Đều có một phần đất nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm"

Tác giả đã khẳng đinh mối quan hệ hai chiều giữa con người và đất nước. Đất cn hiện diện ngay trong cuộc sống của mỗi người , gắn liền với những tình cảm riêng tư nhất. Ngược lại mỗi con người cũng bằng chính cuộc sống của mình đã góp phần tạo dựng và giữ gìn quê hương đất nước . Cho nên khi hai đứa "cầm tay" thì đất nước đã hòa quyện cùng tình yêu lứa đôi hài hó nồng thắm.

2. 2 câu tiếp

.Đất nước còn hiện diện trong khoảnh khắc
"Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất nước vẹn tròn to lớn"

Đó là cảm giác ấm áp khi mỗi cá nhân được hào quyện vào cuộc đời chung. Khi đó đất nước vẹn tròn to lớn với tình đồng bào, tình dân tộc bền chắc thiêng liêng.

3 .3 câu tiếp.

Chính vì vậy đất nước là tài sản vô giá mà mỗi con người phải có trách nhiêmh truyền lại cho các thế hệ mai sau

"Mai này con ta lớn lên
Con sẽ mang đất nước đi xa
Đến những tháng ngày mơ mộng"

Câu thơ chứa đựng niềm tin vào một tương lai tươi sáng đẹp đẽ. Hình ảnh "con ta" không chỉ gắn liền với hạnh phúc lứa đôi mà còn là biểu tượng cho ngày mai của quê hương xứ sở, nagy trong hiện tại đất nước còn chìm ngập trong máu lửa đau thương nhưng tác giả vẫn hướng về một ngày mai tươi sáng.

4. Từ những suy nghĩ ấy, nhà thơ đã nhắc nhở với mọi người gìn giữ và bảo vệ tổ quốc, làm bổn phận thiêng liêng của mỗi con người

"Em ơi em đất nước là máu xương của mình
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở
Làm nên đất nước muôn đời"

Tác giả đã mượn lời tâm sự của một người yêu nói với người yêu để khẳng định trách nhiệm của mỗi người với quê hương đất nước. Đất nước là máu thịt, là cuộc đời, là tổ ấm của chính mình nên sự hiến dâng kia là tất yếu. cũng với lời tâm tình tha thiết nhà thơ đã mở đầu những dòng thơ bằng lời kêu gọi thức tỉnh lơng tri của những người Việt Nam chân chính.


IV.12 câu tiếp theo :cảm nhận Đất nước ở phương diện không gian địa lý, tư tưởng đất nước của nhân dân

"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái

Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…"

Từ xưa đến nay, đất nước đã soi bóng vào biết bao nhêu sáng tác của các nhà văn nhà thơ: Xuân diệu đã viết về đất nước như một con tàu xé sóng ra khơi

"Tổ quốc tôi như một con tàu
Mũi thuyền xé sóng mũi Cà Mau"

Nhà thơ Chế Lan Viên cũng từng viết về đất nước đầy tự hào

"Tâm hồn tôi khi tổ quốc soi vào
Như ngàn núi trăm sông diễm lệ"

Nhưng có lẽ chưa có ai có cái nhìn bao quát và sâu rộng về đất nước như Nguyễn Khoa Điềm

1.4 câu đầu

Từ xưa đến nay, không gian địa lý vẫn được coi là yếu tố vật chất, cho nên nói đến phương diện này người ta thường nghĩ đến bàn tay cảy tạo hóa, còn ở đây Nguyễn Khoa Điềm đã mang đến một cái nhìn độc đáo mới mẻ

"Những người vợ nhớ chồng còn góp cho đất nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái
Gót ngựa của Thành Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp mình dựng lên đất tổ hùng vương"

Tác giả đã liệt kê những đại danh thắng cảnh nổi tiếng của đất nước nhưng không phải để ngợi ca thiên nhiên hào phóng mà hướng tới khẳng định công lao vĩ đại của nhân dân. Điệp từ "góp cho" biến mỗi câu thơ thành một lời khẳng định về những vai trò to lớn của con người nhỏ bé bình dị. chính họ bằng tình yêu và nỗi đau, nghị lực và sức sáng tạo của mình đã alfm nên linh hồn cho núi sông bờ cõi.

Đó là bao nhiêu thế hệ phụ nữ từng nhớ thương chờ đợi, từng chung thủy tha thiết đã góp cho đất nước những núi Vọng Phu. Bởi lẽ nếu không có tình yêu của họ thì núi mãi mãi chỉ là núi đá, vô tri vô giác chứ đâu phải là nhgf hòn Vọng Phu vòi vọi ngắm trông. Cũng như phải có nghĩa tình đằm thắm của những cặp vợ chồng yêu nhau thì mới có những đôi trống mái điểm tô cho không gian đất nước. Chính ánh mắt của những con người tràn đầy niềm tin vào hạnh phúc, vào sức mạnh của yêu thương đã phát hiện và góp cho đất nước những biểu tượng ngọt ngào kia.

Không chỉ thế trí tưởng tượng phong phú và tinh thần tự hào dân tộc còn sáng tạo nên những truyền thuyết cho từng mảnh đất trở nên thiêng liêng vô giá. Những ao hồ không còn là sản phẩm của tự nhiên mà đã in dấu vết chân ngựa của người anh hùng làng Gióng. Đó là chứng tích của những truyền thống bất khuất, khát vọng tự do.

Có thể nói rằng chính những con người bình dị "vô danh như cát", "Sống trong cát, chết vùi trong cát-Những trái tim như ngọc sáng ngời" (Tố Hữu) đã góp cho đất nước không phải những chiến công hiển hách mà bằng chính cuộc sống tâm hồn phong phú, bằng sự hi sinh thầm lặng của mình. Chính nhân dân qua bao thế hệ đã bằng xương máu của mình mà đặt tên cho hình sông thế núi, tạo nên một đất nước đằm thắm nghĩa tình thủy chung. Đất nước có khi hiện hình trong đau buồn với những núi Vọng Phu, đất nước đằm thắm nghĩa tình ở hòn Trống Mái , đất nước trỗi dậy thành những nét kì vĩ nơi gót ngựa thành gióng đi qua để lại…Từ điểm nhìn từ thiên nhiên kì thú, Nguyễn Khoa Điềm đã dạy cho ta cách "cảm" để yêu thêm vẻ đẹp của đất nước muôn đời .

2.4 câu tiếp

Công lao vĩ đại của người dân còn được phản chiếu qua mọi chiều không gian địa lý này

"Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm
Người học trò nghèo góp cho nước mình núi Bút, non Nghiên
Con cóc, con gà quê hương cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh
Những người dân nào đã góp tên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm"

Không gian được mở rộng tới vô cùng vô tận và ở nơi nào nhà thơ cũng chỉ cho ta thấy bằng chứng về sức sáng tạo của nhân dân. Qua cái nhìn của họ, những dòng sông hóa thành nguồn sống bồi đắp nên bờ bãi ruộng đồng phì nhiêu. Đến những người học trò nghèo cũng góp cho quê hương những núi Bút non Nghiên bằng ước mơ khát vọng của mình.

Đặc biệt Nguyễn Khoa Điềm liệt kê hàng loạt những đại danh mang sắc thái riêng của miền Nam để lần nữa khẳng định vai tò to lớn của nhân dân tên hành trình dựng nước giữ nước : Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm. Phải chăng đso là những người đầu tiên có công khai phá để đất đai hoang vu thành đồng ruộng xóm thôn. Có thể họ đã xa khuất từ bao giờ nhưng tên tuổi của họ đã làm nên linh hồn cho những miền quê ấy.

Những tầng tầng lớp lớp đại danh được bày biện trên trang giấy, chỉ thế thôi cũng đã tái hiện được một Việt Nam đẹp đẽ, dải đất "hình tia chớp" mà đi đâu ta cũng thấy biết bao nhiêu danh lam thắng cảnh. Bằng bút pháp liệt kê Nguyễn Khoa Điềm đã dẫn dắt người đọc đi khắp chiều dài đất nước từ Bắc xuống Nam, từ rừng xuống biển. Mọi nơi trên đất nước , từ tên đất, tên sông, tên núi, tên gò bãi…đều có sự góp phần của những người "không ai nhớ mặt đặt tên" những chính họ đã "gắn bó và san sẻ", đã "hóa thân cho dáng hình xứ sở", để tên người đã hóa thành tên của đất

3. 4 câu cuối

Từ hệ thống dẫn chứng đầy sức thuyết phục ấy, Nguyễn Khoa Điềm đã khái quát một chân lý

"Và ở đâu trên khắp ruộng đồng gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ước, một lối sống ông cha
Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta…"

Đoạn thơ có sự hòa quyện giữa chất tữ tình đằm thắm tha thiết và chất chính luận sắc sảo. nó không chỉ mang đến một cách nhìn độc đáo về núi sông rừng biển mà còn đánh thức trong tâm hồn mỗi con người tình yêu quê hương xứ sở, lòng biết ơn đối với ông cha bởi lẽ nơi nào cũng in đậm dấu ấn của mấy nghìn thế hệ đi trước . mỗi dòng sông con suối, mỗi dáng núi hay bờ bãi ruộng đồng đều có phần máu thịt của người xưa. Họ đã khai phá đất đai bằng đôi abfn aty cần mẫn. Họ đã mang tất cả tình yêu dồn cho đất đai sông núi để truyền lại cho các thế hệ sau không gian địa lý phong phú, đẹp đẽ này. Chính vì vậy mỗi tấc đất là thiêng liêng vô giá.

Chính nhân dân đã tạo đựng nên đất nước này, đã đặt tên đã ghi dấu ấn của cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, con sông, tấc đất. nhưng không phải cũng có thể lắng nghe và cảm hiểu được linh hồn của đất đá vô tri, không phải bất cứ ai cũng nhìn thất những bóng dáng cuộc đời của nhân dân trong hình sông thế núi. Vì thế vẻ đẹp của đoạn thơ được làm nên từ vẻ đẹp của một tâm hồn lịch lãm , sâu sắc của một thi sĩ nhìn đất nước bằng sự tải nghiệm, tấm tình sâu nặng đối với nhân dân vô danh.


V.26 câu tiếp theo :Đất nước ở phương diện lịch sử

"Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để đất nước này là đất nước nhân dân"

Khi tái hiện lịch sử, nhiều nhà văn nhà thơ khác thường nhắc tới những triều đại vàng son,những vĩ nhân được lưu danh trong sử sách. Trong bình ngô đại cáo, Nguyễn Trãi từng tạ hào khẳng định :"Từ Triệu Đinh Lý Trần bao đời gây nền độc lập - Cùng hán Đường Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương". Nhà thơ Chế Lan Viên cũng từng dặt câu hỏi :"Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?" và cũng tự trả lời

"Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nuyễn Du viết Kiều và đất nước hóa thành văn
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa bắc
Hưng đạo đại vương diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng"

1.5 câu đầu

Còn ở đây, Nguyễn Khoa Điềm muồn hướng người đọc đến một đối tượng khác

"Em ơi em
Hãy nhìn rất xa
Vào bốn nghìn năm đất nước
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái con trai bằng tuổi chúng ta"

Tác giả muốn hướng người đọc đến những con người không trực tiếp hiện diện thậm chí có vẻ lặng lẽ trên hành trình mấy ngàn năm dựng nước nhưng chính họ đã sáng tạo nên lịch sử của đất nước. Trong mấy ngàn lớp người nối tiếp nhau không dứt ấy, tác giả "Đất nước" đặc biệt đề cao thế hệ trẻ vì chính họ là tương lai của đất nước. Họ gánh phần người đi trước để lại, tiếp nối phát huy truyền thống của cha anh để rồi họ giữ gìn và truyền lại cho các thế hệ sau.

2. 4 câu tiếp theo

Bằng cách nói giản dị dân dã, Nguyễn Khoa Điềm đã khám phá và khẳng định đóng góp to lớn của những con người bình thường lặng lẽ

"Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con
Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh"

Với đôi bàn tay cần cú nhẫn nại, họ đã khai phá đất đai, mở mang bờ cõi, tạo nên ruộng đồng bờ bãi xóm thôn. Không chỉ dựng nước họ còn góp xương máu để giữ gìn bảo vệ tổ quốc. Họ tự nguyện đảm đương xứ mệnh thiêng liêng một cách tự nguyện như thể đó là điều tất yếu. những người con trai cầm vũ khí ra trận bảo vệ quê hương xứ sở, những người vợ những người mẹ vượt lên nỗi đau, nỗi cô đươn thương nhớ âu lo để đảm đang, gánh vác trọn vẹn việc nhà

Đặc biệt tác giả đã nhấn mạnh một truyền thống quý báu của người phụ nữ Việt Nam :đó tinh thần bất khuất kiên cường :"Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh". Lời thơ như gợi lại vóc dáng của Bà Trưng Bà Triệu và anh hùng liệt nữ đã làm nên những trang sử hào hùng cho dân tộc.

3.9 câu tiếp

Chính vì vậy khi nhớ về quá khứ, Nguyễn Khoa Điềm đã làm sống dậy hình ảnh của mấy ngàn lớp người vô danh

"Nhiều người đã trở thành anh hùng
Nhiều người anh hùng cả anh và em đều nhớ
Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái con tải
Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và chết
Giản dị và bình tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đã làm nên đất nước "

Nhà thơ không nhắc lại tên tuổi của những vĩ nhân thường được lưu danh trong sử sách bởi lẽ đó là những anh hùng mọi người đều biết, công lao của những vĩ nhân ấy đã được ca ngợi tôn thờ. ở đây Nguyễn Khoa Điềm muốn tô đậm tầm vóc lớn lao phi thường của những con người nhỏ bé, bình thường. Họ chính là nhân dân, là bốn nghìn lớp người chính bằng cuộc sống của mình đã làm nên đất nước

Trong chính những câu thơ này, Nguyễn Khoa Điềm đã phát hiện nét đẹp đặc trưng của tâm hồn họ :Đó là sự giản dị, hi sinh thầm lặng, nhân dân không ồn ào phô trương, không tô vẽ cho mình. Nhưng chính điều đó khiến nhân dân trở nên to lớn vĩ đại. Thế hệ này nối tiếp thế hệ kia. Họ lặng lẽ tạo dựng và gìn giữ cho ta tài sản vô gái này. Vẻ đẹp thầm lặng bình dị này của nhân dân cũng đã được nhà thơ Nguyễn Duy ca ngợi

"Và vì thế nhân dân thường ít nói
Như mẹ tôi lặng lẽ suốt đời
Và như thế nhân dân cao vòi vọi
Hơn những ngôi sao trơ trọi cuối trời"

4. 8 câu cuối

Công lao vĩ đại của nhan dân sẽ được nhà thơ chứng minh bằng hàng loạt dẫn chứng cụ thể, giàu sức thuyết phục

"Họ giữ và truyền cho ta hạt lúata trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từhòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên làng tên xã trong mỗi chuyến di dân
Họ dắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để đất nước này là đất nước nhân dân"

Không phải ngẫu nhiên mà tất cả các dòng thơđều bắt đầu bằng điệp từ "họ". Bằng cách nói này Nguyễn Khoa Điềm lại một lần nữa khắc sâu ấn tượng về vai trò không thể thiếu của nhân dân. Nhân dân không chỉ làm nên lịch sử mà còn sáng tạo mội giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước

Điệp khúc "truyền cho" gợi liên tưởng đến một cuộc tiếp sức vĩ đại trên hành trình mấy ngàn năm lịch sử đằng đẵng. bằng hệ thồng hình ảnh giàu ý nghĩa ẩn dụ sâu xa,tác giả đã khám phá và ngợi ca công lao vĩ đại của nhân dân. Đó là hình ảnh "hạt gạo" bé nhỏ bình thường nhưng đã kết tinh sức lực, tâm huyết trí tuệ của bao nhiêu thế hệ con người. Ai đã là người tìm ra cây lúa giữa hàng ngàn loài cây hoang dại khác?. Ai là người đã tìm ra cách gieo cấy vun trồng để có được vụ mùa đầu tiên? Và ai đã rìm ra cách xay giã giần sàng biến hạt lúa kia thành hạt gạo trắng ngần. Hành trình ấy đòi hỏi phải có sự tiếp nối của nhiều thế hệ, người đi trước tích lũy kinh nghiệm và truyền lại, người đi sau đón nhận, sáng tạo và hoàn thiện…

Nhân dân giữ gìn và truyền cho ta ngọn lửa. Đó là ngọn lửa được thắp lên cho mỗi ngôi nhà, ngọn lửa mang theo hơi ấm và sự sống cho con người. Song đó cũng là ngọn lửa biểu tựng cho tình cảm cộng đồng ấm áp "tối lửa tắt đèn có nhau" của người Việt

Song có lẽ công lao vĩ đại nhất của nhân dân chính là sự gìn giữ và bảo tồn tiếng mẹ đẻ, linh hồn của dân tộc. Chiến công phi thường ấy được nhà thơ thể hiện bằng hình ảnh rất đôic thân quen, bình dị "Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói. Đó là hình ảnh những người cha người mẹ dạy con mình bập bẹ ngh tiếng nói đầu tiên. Bằng hình ảnh tưởng chừng như chẳng có gì đáng kể ấy, họ đã gìn giữ tiếng mẹ đẻ từ thế hệ này sang thế hệ khác. Phải nhìn về quá khứ mới nhing thấy hết công lao của nhân dân :1000 năm bấc thuộc, 100 năm Pháp thuộc, kẻ thù tìm mọi cách để đồng hóa, để xóa đi bản sắc riêng của dân tộc này. Vậy mà ông cah ta vẫn gìn giữ vẹn nguyên tiếng Việt.

Cội nguồn để tạo nên sức mạnh kì diệu ấy chính là tình yêu thắm thiết sâu nặng dành cho quê hương xứ sở. Khi khai pahs những vùng đất mới, họ không chỉ gánh trên vai những vật dụng thiết yếu cho cuộc sống hàng ngày mà còn mang theo cả tên làng, tên xã, tình quyến luyến với quê hương, thủy chung với cội nguồn và cũng là truyền thống của người Việt

Bằng sức mạnh của tình yêu đất nước, nhân dân đã tạo nên không gian địa lý, khai phá ruộng đồng cho các thế hệ sau "trồng cây hái trái". Câu thơ đã tái hiện lại bao nhiêu thế hệ đã đổ mồ hôi, góp công sức cho những dải đê điều, mương máng bao quanh những xóm làng bừa bãi.
Không chỉ tạo dựng ruộng đồng, núi sông, bờ cõi, gìn giữ những truyền thống đạo đức, nhân dân còn góp phần vào sự nghiệp giữ nước

"Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Để đất nước này là đất nước nhân dân"

Tác giả đã khái quát và ngợi ca lịch sử hào hùng của một dân tộc trên suốt hành trình dựng nước và giữ nước. Dân tộc ấy chưa bao giờ chịu cúi đầu khuất phục trước bất kỳ thế lực nào. Nhân dân không chỉ đánh đuổi ngoại xâm để giành lấy tự do mà còn tiêu diệt nội thù để đất nước hòa bình, thống nhất. nhân dân đã tạo lập và truyền lại cho ta đất nước của nhân dân hiền hòa, bình dị mà anh hùng, quật cường như nhà thơ Huy Cận từng ca ngợi

"Sống vững chãi 4000 năm sừng sững
Lưng đeo gươm tay miệt mài bút hoa
Trong lạ thực sáng hai bờ suy tưởng
Sống hiên ngang mà nhân ái, chan hòa"


VI.9 câu cuối :Cảm nhận đất nước về bề sâu văn hóa

"Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết yêu em từ thưở trong nôi

Người đến hát chèo đò vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi"

1.Câu đầu tiên

Tư tưởng đất nước của nhân dâncòn được tác giả khắc họa rõ nét trong đoạn thơ cuối

"Đất nước của nhân dân, đất nước của ca dao thần thoại"

Dòng thơ đầu tiên được ngắt thành hai vế, mỗi vế là một lời khẳng định về bản sắc riêng của nước Việt. Đó là đất nước của nhân dân, do nhân dân tạo lập, gìn giữ. Đó cũng là nước Việt của ca dao thần thoại. không phải ngẫu nhiên tác giả nhắc tới 2 thể loại tiêu biểu nhất của văn học dân gian. Thần thoại thể hiện cuộc sống qua trí tưởng tượng bay bổng của nhân dân. Còn ca dao bộc lộ thế giới tâm hồn của nhân dân với tình yêu thương, với sự lãng mạn cùng với tinh thần lạc quan. Đó là những tác phẩm do nhân dân sáng tạo, lưu truyền và có khả năng phản chiếu tâm hồn, bản sắc dân tộc

2.4 câu tiếp

Cho nên Nguyễn Khoa Điềm đã mượn ý tứ của những câu ca dao quen thuộc để khám phá nhiều nắt đặc trưng trong tính cách, tâm hồn người Việt

" Dạy anh biết yêu em từ thưở trong nôi
Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre mà đợi ngày thành gậy
Đi trả thù không sợ dài lâu"

Nhân dân dạy ta biết yêu thương lãng mạn, đắm say thủy chung với những câu ca

"Yêu em từ thưở trong nôi
Em nằm em khóc anh ngồi anh ru"

Đây là phát hiện mới của Nguyễn Khoa Điềm. Bởi lẽ từ xưa đến nay nói đến nhân dân ng ta thường nghĩ đến những phẩm chất cần cù chịu khó, bất khuất kiên cường. còn ở đây tác giả lại ngợi ca vẻ đẹp trẻ trung lãng mạn trong tình yêu, những mối tình từ thưở ấu thơ, từ thời "thanh mai trúc mã"

Nhân dân gìn giữ và truyền lại cho ta quan niệm sống đẹp đẽ, sâu sắc :"Biết quý công cầm vàng những ngày lặn lội". Nhà thơ đã mượn ý tứ câu ca dao "Cầm vàng mà lội qua sông - Vàng rơi không tiếc, tiếc công cầm vàng" để ngợi ca truyền thống trọng tình nghĩa của ông cha ta. Dẫu phải sống trong cuộc sống triền miên khó khăn, nhọc nhằn, thiếu thốn nhưng nhân dân vẫn đề cao tình nghĩa hơn của cải vật chất

Nói đến bản sắc riêng của tâm hồn dân tộc không thể không nói đến sự bền bỉ phi thường trong chiến đấu

"Biết trồng tre mà đợi ngày thành gậy
Đi trả thù không sợ dài lâu"

Hai câu thơ đã gợi lại biết bao cuộc kháng chiến giữ nước trường kì của nhân dân từ thưở lập nước, ông cha ta đã luôn phải đương đầu với nạn ngoại xâm. Cuộc chiến đấu giành độc lập tự do nào cũng kéo dài hàng chục năm, hàng trăm năm. Sau cả nghìn năm bắc thuộc nhân dân vẫn đứng lên giành chủ quyền, 10 năm chống Minh, 80 năm chống Pháp, 30 năm chống Pháp-Mĩ…thử hỏi nếu không có sự kiên trì bền bỉ và khát vọng tự do mãnh liệt, dân tộc bé nhỏ này làm sao có thể vượt qua bao nhiêu khó khăn gian khổ, mất mát hi sinh.

3.4 câu cuối

Từ niềm tự hào về nhân dân tác giả đã thể hiện niềm tin vào một tương lai tươi sáng, thanh bình cho đất nước

" Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu
Mà khi về đất nước mình bắt lên câu hát
Người đến hát chèo đò vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi"

Nghệ thuật đối lập ở hai câu đầu cho thấy tâm hồn lãng mạn, yêu ca hát của người Việt. dòng sông trước khi vào nước mình chỉ đơn thuần là bắt nước còn khi vào đến nước mình thì dòng sông ấy bắt lên câu hát. Câu thơ gợi cho ta nhớ đến những điệu hò hùng tráng trên sông Mã, ca Huế ngọt ngào trên sông Hương và điệu hò kéo lưới mạnh mẽ ở miền trung, hay đờn ca tài tử tha thiết ở miền Nam. Sự tương phản giữa hai hình ảnh "chèo đò, kéo thuyền vượt thác" và "câu hát" đã ca ngợi tinh thần lạc quan bất diệt của dân tộc. cuộc sống dẫu còn nhiều khó khăn gian khổ nhưng nhân dân chưa bao giờ mất niềm tin và hi vọng. hình ảnh dòng sông bắt lên câu hát gợi "trăm màu" đã ẩn dụ cho một ngày mai tươi sáng cho quê hơng đất nước.

Bài đăng Phổ biến